Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi Nguyễn Thanh Bình

Ngày: 03/12/2013

Họ và tên: NGUYỄN THANH BÌNH

Năm sinh : 1920                  Năm mất : 2008

Quê quán: Xã Nhân Thắng, Huyện Gia Bình, Tỉnh Bắc Ninh

Chức vụ đã đảm nhiệm:Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi từ 6-1973 đến tháng 1-1981

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

Ông Nguyễn Thanh Bình sinh năm 1920 tại xã Nhân Thắng, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi tốt nghiệp tiểu học. ông ra Hải Phòng học việc và thi vào trường Kỹ nghệ thực hành và tham gia phong trào cách mạng tại đây. Năm 1939 được đồng chí Tô Hiệu giới thiệu vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1940 là thành ủy viên Đảng bộ Hải Phòng vào bị mật thám Pháp bắt vào cuối năm 1940. Bị tù tại Hỏa Lò và Sơn La từ 1941 tới 1944. Ra tù tiếp tục tham gia phong trào cách mạng tại quê và tham gia tổng khởi nghĩa tại Bắc Giang. Trở thành Chủ tịch đầu tiên của UBHC Bắc Giang tháng 8 năm 1945.

Kháng chiến bùng nổ, ông tham gia chỉ đạo tổ chức kháng chiến tại khu 12 với cương vị phó chủ tịch. Sau đó được điều chuyển về Ban kiểm tra Trung ương năm 1948. Năm 1950 trước nhu cầu phát triển của QĐ NDVN ông được bổ nhiệm làm cục trưởng Cục Quân nhu, TCHC. Ông tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với cương vị cục phó Cục Hậu cần tiền phương.

Hòa Bình lập lại ông được đề bạt làm Phó chủ nhiệm TC Hậu cần năm 1955, phong quân hàm thiếu tướng năm 1958 và bầu vào BCH trung ương Đảng (Đại hội 3-1960). Cũng vào năm 1960 ông được điều động ra ngoài làm Bộ trưởng Bộ Nội thương. Sau đó giữ hàng loạt cương vị khác như:  trưởng ban Tài chính thương nghiệp Trung ương (1970), chủ nhiệm UB vật giá nhà nước, chủ nhiệm UB thanh tra chính phủ.

Năm 1973 ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ thủy lợi – “làm cho đất nước điều hoà với nhau”. Xây dựng cơ bản và hoàn chỉnh thuỷ nông (1973 – 1975)….Triển khai công tác thuỷ lợi ở miền Nam. Xây dựng thuỷ lợi Trung bộ và Tây Nguyên (1976 – 1980) đưa công tác thuỷ lợi miền Đông Nam bộ, từ không thành có. Trong giai đoạn 1976 – 1980, đã khôi phục hoàn toàn năng lực tới của kênh rạch Nam bộ sau 30 năm bị chiến tranh tàn phá và thiên nhiên huỷ diệt, đồng thời cả nước xây dựng thêm được hàng ngàn công trình mới, tổng năng lực tưới thêm 485.000 ha. Thành tựu về thuỷ lợi không chỉ mang lại lợi ích kinh tế tó lớn, là cơ sở kỹ thuật hàng đầu góp phần đưa nông nghiệp phát triển bền vững. Về phòng chống lụt bão, có thể nói ta đã vững vàng trước lũ sông Hồng, đối phó hiệu quả với lũ lớn ở Trung bộ và đang từng bước giải quyết vấn đề ngập lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiệm kỳ của ông tuy không dài lắm nhưng là một bước đột biến trong lịch sử của ngành Thuỷ lợi, từ thuỷ lợi miền Bắc chuyển sang thuỷ lợi cả nước, không chỉ địa bàn mở rộng mà mục tiêu cũng mở rộng, chất lượng đòi hỏi cao, đã xây dựng được một hệ thống tổ chức thuỷ lợi hoàn chỉnh, từ Trung ương đến địa phương, với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân hùng hậu, được đào tạo chính quy, bài bản.

Đại hội Đảng V (1982), ông được bầu vào Ban bí thư phụ trách khối Nông nghiệp. Năm 1986  ông được cử làm bí thư thành ủy Hà Nội. Đại hội Đảng khóa VI ông được bầu vào Bộ chính trị và làm thường trực Ban bí thư.

Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa IX

Ông nghỉ công tác năm 1992.

Chức vụ đảm nhiệm:

- Chủ tịch Tỉnh Bắc Giang (đầu tiên 1945-1946)

- Ủy viên UB Kiểm tra trung Ương Đảng (1948-1949)

- Cục trưởng cục quân nhu (1950)

- Phó chủ nhiệm và chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1955)

- Phong quân hàm thiếu tướng QĐNDVN (1958)

- Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng( Đại Hội III)

- Bộ trưởng Bộ Nội thương (1960) .

- Trưởng ban Tài chính thương nghiệp Trung ương (1970)

- Chủ nhiệm UB vật giá nhà nước

- Chủ nhiệm UB thanh tra chính phủ

- Bộ trưởng bộ thủy lợi (1973)

- Bí thư trung ương Đảng khóa V (1982-1986), phụ trách khối nông nghiệp.

- Bí thư thành ủy HN (1986-1988)

- UV BCT, thường trực ban bí thư Trung ương Dảng khóa VI (1988-1992)

- Đại biểu Quốc hội khóa nhiều khóa.

VINH DANH

Ông được nhà nước CHXHCN Việt Nam trao tặng:

- Huân chương Sao Vàng

- Huân chương Hồ Chí Minh

- Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất

- Huân cương kháng chiến hạng nhất

- Huân chương quân công hạng 2 và một số huân chương khác.