Bộ trưởng nông dân

Ngày: 26/08/2016

Vào những ngày đầu tháng 10/2015, tôi gặp lại ông Lê Huy Ngọ để tìm hiểu về những công việc lớn thời ông làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT. Ông vẫn thân mật và dễ gần như ngày nào. Ở cái tuổi 77 ông vẫn đi nhiều và có điều kiện đọc, suy nghĩ nhiều hơn về chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn với sự nhiệt huyết và cũng đầy trăn trở.

Thúc đẩy nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn

Tháng 10/1997 ông được giao nhiệm vụ mới làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT – một Bộ có quy mô quản lý rộng và có nhiều vấn đề xã hội lớn khi đất nước có 70% dân số là nông dân. Ông suy nghĩ: “Một đất nước mà ruộng cũng nhiều, rừng cũng nhiều, biển cũng nhiều, lam lũ sớm chiều mà nông dân vẫn nghèo”. Với ông, đây thực sự là nỗi trăn trở lớn nhất.

“Chương trình 8 cây, 3 con”

Sau một thời gian tìm hiểu về tổ chức và công việc của Bộ, ông đã thảo luận với đội ngũ cán bộ chủ chốt và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Cuối cùng, ông đã lựa chọn và đưa ra chiến lược đột phá để phát triển: Phải tập trung xây dựng và phát triển sản phẩm chủ lực. Chiến lược ấy được đặt tên đơn giản nhưng rất thiết thực: “Chương trình 8 cây, 3 con”, 8 cây là lúa, cà phê, cao su, tiêu, điều, mía, cây ăn quả và cây ngô, 3 con là con bò, lợn và gà.  “Việt Nam có nhiều nông sản nên phải lựa chọn ra những sản phẩm chủ lực để tổ chức sản xuất hàng hóa lớn, vừa giải quyết những vấn đề cơ bản về an ninh lương thực, đồng thời giải quyết các vấn đề xuất khẩu là tạo thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung lớn”– ông Lê Huy Ngọ nhấn mạnh.

Đối với việc đổi mới tổ chức sản xuất, ông tiếp tục thúc đẩy khoán sản phẩm trong nông nghiệp – điều mà ông đã làm từ khi công tác ở Vĩnh Phú. Cùng với khoán hộ, ông đã xây dựng quy hoạch phát triển trang trại, xây dựng chính sách hỗ trợ và các tiêu chí đánh giá để thúc đẩy sự ra đời những trang trại sản xuất hàng hóa lớn. “Trang trại về lúa thì ít nhưng trang trại về cà phê, cao su, tiêu, điều, chăn nuôi, thủy sản… rất nhiều. Một phần nông dân thuê đất, mua đất, một phần họ nhận đất giao khoán của nông lâm trường và nhà nước nên rất nhanh” – ông Lê Huy Ngọ cho biết.

Sau 10 năm triển khai với tiêu chí và chính sách mới, số lượng trang trại tăng nhanh. Năm 2001 cả nước có 61.000 trang trại, năm 2006 có 110.000 trang trại, năm 2010 đạt 146.000 trang trại. Năm 2011, do thay đổi nâng tiêu chí trang trại, số trang trại có khoảng 20 ngàn trang trại nhưng sau đó vẫn tăng đạt hơn 22 ngàn trang trại vào năm 2012. Loại hình sản xuất của trang trại ngày càng đa dạng theo hướng giảm tỉ trọng trang trại trồng trọt, tăng trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và trang trại kinh doanh tổng hợp.

Sau chiến lược về tạo vùng sản xuất sản phẩm tập trung, ông đã đưa ra 4 giải pháp đột phá về kỹ thuật và công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất: thứ nhất là giống cây trồng vật nuôi, thứ hai là thủy lợi; thứ ba là KHCN mới; và xây dựng, nâng cấp các viện trường là nòng cốt của tiềm năng KHCN nông nghiệp Việt Nam. “Nếu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và chỉ có thế thì không có hiệu quả, phải có một cơ cấu giống có năng suất cao, chất lượng tốt và có khả năng cạnh tranh thì mới tạo ra sản phẩm có giá trị” – ông Ngọ nhấn mạnh. Vì thế, ông đã yêu cầu phải xây dựng và thực hiện một “Chương trình giống cây trồng, vật nuôi” phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả. Chương trình giống cây trồng, vật nuôi làm suốt trong 10 năm (2000-2010) và đang được tiếp tục thực hiện cho giai đoạn 2011-2020 để đáp ứng các yêu cầu: đảm bảo giống chất lượng tốt; áp dụng công nghệ mới trong sản xuất giống; hình thành hệ thống sản xuất giống và dịch vụ giống cây trồng; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước tham gia vào nghiên cứu, lai tạo sản xuất giống.

Đến năm 2005, chương trình đã đầu tư 53 dự án giống với số tiền 550 tỷ đồng; các địa phương đầu tư vào 342 dự án triển khai với số vốn 1.370 tỷ đồng. Qua 5 năm thực hiện (2000-2005), theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và PTNT,  chương trình giống đã cơ bản thực hiện được các mục tiêu đề ra, là một chương trình có hiệu quả thiết thực. Chương trình đã công nhận chính thức và tạm thời được 45 giống lúa, 15 giống ngô, 4 giống cây có củ, 18 giống đậu, lạc; nâng cao tỷ lệ lợn lai ngoại từ 62% lên 82%, tập trung làm truyền phôi tươi và phôi đông để nâng cao năng suất, chất lượng của bò, chọn tạo những dòng giống gia cầm mới theo hướng lấy trứng và chất lượng thịt cao; tập trung nghiên cứu và nâng cao chất lượng giống cây bạch đàn, keo, tràm và hoàn thiện một số quy trình nhân giống. Chính chương trình giống này đã giúp nâng cao năng suất, chất lượng về lúa gạo, cà phê, cao su… qua đó góp phần nâng cao khả năng xuất khẩu nông sản của nước ta.

Cùng với giống, muốn chuyển đổi cơ cấu được thì phải làm thủy lợi, đặc biệt lúc đó có 2 vùng có tiềm năng nhất là đồng bằng sông Cửu Long về lúa gạo, và Trung bộ, Tây Nguyên về phát triển cây công nghiệp. Để làm được thủy lợi, vấn đề lớn nhất lúc bấy giờ là vốn. Ông đã đề xuất với Chính phủ huy động trái phiếu Chính phủ về thủy lợi. Và chính nhờ trái phiếu Chính phủ đã xây dựng các công trình thủy lợi lớn như: tiếp tục xây dựng hệ thống kiểm soát lũ và đập ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long như đập Ba Lai (Bến Tre), cống đập Chà Và, Láng Thé (Trà Vinh), hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít;  làm một loạt hồ đập ở miền Trung hồ Cà Giây- Bình Thuận; hồ Sông Sắt, Tân Giang – Ninh Thuận; đập Tả Trạch – Thừa Thiên Huế, hồ Định Bình – Bình Định), hồ chứa nước Đắk Yên – Kon Tum; la M’la – Gia Lai; Ea Súp Thượng, Krông Buk hạ – Đắk Lắk. Nhờ các công trình thủy lợi này, diện tích trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung đã được mở rộng và đưa giống lúa ngắn ngày năng suất cao vào để nâng từ 1 vụ lúa thành 2 vụ và từ 2 vụ thành 3 vụ lúa, sản lượng lúa tăng vọt từ 24,97 triệu tấn năm 1995 lên 35,84 triệu tấn vào năm 2005.

Về KHCN, muốn đẩy nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất thì phải nâng cao tiềm lực KHCN ở các viện, trường để phục vụ cho chiến lược phát triển nông nghiệp. “Trực tiếp đi kiểm tra mình thấy có một số viện  điều kiện sản xuất không bằng HTX chưa nói đến trang bị và điều kiện làm việc của cán bộ quá khó khăn, mình bức xúc nhất chỗ này” – ông Lê Huy Ngọ cho hay. Vì vậy, ông đã đưa ra chủ trương: “Xây dựng kế hoạch nâng cao tiềm lực KHCN nông nghiệp” bằng cách vay vốn ODA để nâng cấp hầu hết các viện – trường và đào tạo cán bộ khoa học. Tổng số vốn đầu tư cho chương trình này gần 100 triệu USD và đến nay hầu hết các viện trường được cải tiến, nâng cấp; có một số viện đạt ngang bằng trình độ KHCN của khu vực.

Lấy giá trị làm thước đo sản xuất

Với lĩnh vực lâm nghiệp, tập trung chỉ đạo việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia trồng 5 triệu ha rừng; triển khai rất mạnh việc giao đất, giao rừng cho dân và cộng đồng thôn bản; đẩy mạnh trồng rừng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp chế biến rừng; đưa lực lượng kiểm lâm về địa bàn xã để cùng với dân tổ chức việc phát triển và bảo vệ rừng từ cơ sở, gắn bảo vệ rừng với nâng cao thu nhập, đời sống người dân miền núi, xóa đói giảm nghèo, xây dựng mô hình làm giàu từ rừng. Nhờ những quyết sách đúng đắn đó, ngành lâm nghiệp đang phát huy hiệu quả. Năm 2005 giá trị xuất lâm nghiệp đạt 9.940 tỷ đồng, tăng 23,4% so với năm 2000.

Trao đổi với chúng tôi, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho rằng: “Bác Ngọ khi làm Bộ trưởng là người chỉ đạo và có nhiều giải pháp sáng tạo, quyết liệt trong giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho người dân và cộng đồng dân cư; việc quyết định đưa kiểm lâm về địa bàn xã để kiểm lâm gắn với dân, với rừng; đề nghị Chính phủ quy định cụ thể về trách nhiệm bảo vệ rừng của chính quyền các cấp được coi là quyết sách sáng tạo. Tâm huyết của Bộ trưởng về liên kết 4 nhà “nhà nông – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp – nhà nước” ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào nông lâm nghiệp là bài học kinh nghiệm quý cho việc hình thành tư tưởng tái cơ cấu ngành nông lâm nghiệp hiện nay. Là Bộ trưởng nông dân, ông luôn trăn trở làm sao để người dân gắn bó với rừng nhiều đời nay sống được bằng thu nhập từ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, đến nay ông vẫn đang “tìm tòi mô hình” để nhân rộng cách làm giàu từ rừng”.

Với hướng đi đó, sản xuất nông nghiệp, năng suất cây trồng, vật nuôi được nâng cao, xuất khẩu cũng bắt đầu tăng liên tục, góp phần giải quyết được 2 mục tiêu quan trọng nhất lúc bấy giờ là: an ninh lương thực được vững chắc và tạo ra được một số sản phẩm xuất khẩu có giá trị lớn, đứng thứ nhì thế giới là lúa gạo, cà phê, hạt tiêu, điều… góp nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho quốc gia. Trong giai đoạn 2000 – 2005, tốc độ tăng trưởng ngành đạt mức khá cao, giá trị gia tăng (GDP) tăng bình quân 3,83%/năm, giá trị sản xuất tăng 5,4%/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản tăng mạnh từ mức 4,2 tỷ USD năm 2000 lên 8,7 tỷ USD năm 2005, trung bình mỗi năm tăng khoảng 15%.

Khi đã có vị thế về lượng, ông bắt đầu nghĩ đến việc nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp: “Lúc đó đang phấn đấu theo mục tiêu 5 tấn/ha mà đã quyết định chuyển sang xây dựng những cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm, tức là không phải đo kết quả sản xuất bằng tấn, tạ mà phải chuyển mạnh sang đồng tiền, lấy giá trị sản xuất làm thước đo kết quả sản xuất. Khi đó toàn quốc trung bình mới đạt 17 triệu đồng/ha/năm nên có nhiều ý kiến xì xào, nhưng bây giờ nhiều tỉnh đã vượt rồi”.

Box:

Thông kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT cho thấy, trong 5 năm (2001-2005), xuất khẩu các mặt hàng nông sản chủ lực đều tăng mạnh cả lượng và giá trị. Năm 2005 xuất khẩu gạo đạt 5,2 triệu tấn với giá trị 1,4 tỷ USD (năm 2000 đạt 3,4 triệu tấn, 667 triệu USD); Cà phê xuất khẩu đạt 892 ngàn tấn với giá trị 735 triệu USD (năm 2000 đạt 734.000 tấn, 502 triệu USD); cao su xuất khẩu đạt 587 ngàn tấn với giá trị 804 triệu USD (năm 2000 đạt 273 ngàn tấn, 166 triệu USD); hạt điều xuất khẩu đạt 108,8 ngàn tấn với giá trị 501 triệu USD (năm 2000 đạt 34 ngàn tấn, 167 triệu USD); chè xuất khẩu đạt 87,9 ngàn tấn với giá trị 96,9 triệu USD (năm 2000 đạt 56 ngàn tấn, 70 triệu USD)…

Đề xuất và chỉ đạo làm điểm đầu tiên về xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới ngày nay đã trở thành một phong trào rộng lớn trong cả nước, tạo ra sự chuyển biến rất rõ thay đổi diện mạo mới ở nông thôn, về phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cải thiện và nâng cao điều kiện và chất lượng sống của nông dân. Thế nhưng, ít người biết được ông Lê Huy Ngọ là người đã trăn trở suy nghĩ và chỉ đạo xây dựng điểm đầu tiên về nông thôn mới. Từ năm 2001, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chủ động phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương đã triển khai xây dựng mô hình thí điểm “Phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hợp tác hoá, dân chủ hoá”, còn được gọi là “mô hình phát triển nông thôn mới cấp xã”. Chương trình này đã được triển khai thí điểm tại 18 xã điểm trên toàn quốc để rút kinh nghiệm về mô hình, chính sách, cách làm.

Ông Lê Huy Ngọ cho biết: “Lúc đó, chương trình xây dựng nông thôn mới tập trung làm 3 nội dung: Thứ nhất quy hoạch để xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung; Thứ hai xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, đặc biệt là thủy lợi, giao thông; Thứ ba xây dựng một bước về trường học, trạm xá, điều kiện môi trường sống – lúc đấy chưa làm được 19 tiêu chí như bây giờ”. Làm thí điểm được 4 năm (2001-2004) tổng kết lại, ông thấy những vấn đề mình nghĩ về nông thôn là đúng rồi, tức là ngoài vấn đề thu nhập thì việc cải thiện chất lượng và điều kiện sống ở nông thôn rất bức xúc, là mong đợi của người dân. Nhưng một mình Bộ Nông nghiệp và PTNT thì không thể làm được, Bộ làm thế nào được đường giao thông, rồi nâng cao chất lượng sống của người dân về y tế, giáo dục, văn hóa, môi trường…

Chưa làm được, nhưng ông cũng không bỏ cuộc. Một mặt vừa tổng kết, báo cáo với Chính phủ, mặt khác ông chỉ đạo làm tiếp bước nữa để thiết thực hơn, đó là mô hình thí điểm xây dựng nông thôn mới ở cấp thôn, bản, ấp – nơi gắn bó hàng ngày với cuộc sống của chính người nông dân. Năm 2004, Bộ chọn ra 17 thôn gắn với 18 xã nông thôn mới trước đây để làm. Ông cho hay, làm ở xã cần nguồn lực từ 70-80 tỷ/xã, nhưng làm ở thôn thì chỉ cần 700-800 triệu, nhiều thì 1 tỷ đồng/thôn là có thể xây dựng thành công nông thôn mới. Và kết quả ở 17 thôn này rất thiết thực, rất tốt, nhưng thôn không phải là đơn vị hành chính cơ sở và hệ thống chính trị đồng bộ. Một lần nữa ông nhận ra: một mình Bộ Nông nghiệp và PTNT thì không thể kham nổi.

Dù chưa tạo ra diện mạo mới cho nông thôn, nhưng những hiểu biết và kinh nghiệm trong việc thí điểm xây dựng nông thôn mới cấp xã hay thôn, bản, ấp đã đúc rút nhiều kinh nghiệm và những bài học trong thực tiễn để sau này xây dựng thành mô hình nông thôn mới cấp xã với 5 nội dung và 19 tiêu chí đồng bộ. Năm 2008, ông nghỉ hưu và vẫn được tín nhiệm giao trách nhiệm tham gia Tổ công tác chỉ đạo chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới ở 11 xã điểm của Ban Bí thư Trung ương Đảng (2008-2011); và sau đó tiếp tục là cố vấn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Chính phủ.

Chỉ đạo về nông thôn mới, dường như ít người có điều kiện đi thực tế các xã nông thôn mới nhiều như ông. Đến nay, ông đã đi gần hết 63 tỉnh thành, mỗi tỉnh đi 1-2 huyện và 3 xã, như vậy ông đã đặt chân đến 186 xã nông thôn mới từ hải đảo Cô Tô, Quảng Ninh đến vùng núi cao Hà Giang, Lào Cai… cho đến vùng biển bồi tận đất mũi Cà Mau. Từ năm 2011, càng đi nhiều ông càng nhận thấy, nếu xã nông thôn mới phát triển sản xuất, nâng cao thu  nhập, nhưng thực ra vấn đề lớn nhất của nông dân thời kỳ CNH – HĐH là cả nâng cao thu nhập và cải thiện điều kiện sống của cư dân nông thôn. “Nếu so về thu nhập thì khoảng cách giữa nông thôn và thành thị chỉ có 2 hoặc hơn 2 lần, nhưng chất lượng sống, điều kiện sống về giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin và điều kiện đi lại ở nông thôn, so với thành phố cách nhau khoảng 7-8 lần. Làm thế nào nâng cao được thu nhập gắn với cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, làm thế nào để nâng cao được kỹ năng sản xuất và trình độ quản lý của nông dân để họ thực sự là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới”– ông Lê Huy Ngọ trăn trở.

Những trăn trở của ông Lê Huy Ngọ đã được giải quyết rốt ráo khi Chính phủ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Đến nay sau 5 năm triển khai cả nước đã có 988 xã và 6 huyện đạt tiêu chí nông thôn mới. Và như một duyên nợ, cả cuộc đời ông gắn bó với nông nghiệp, nông dân, nông thôn và dù đã hưu rồi nhưng ông vẫn chưa ngơi nghỉ. Từ lúc lớn lên làm cán bộ cho đến hôm nay ông vẫn gắn bó với nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Người đời gọi ông là: Bộ trưởng nông dân. Đó là dấu ấn trong cuộc đời của ông.

Chủ động phòng chống tránh lợi dụng thích nghi với bão lũ – thiên tai

Cuộc đời của ông Lê Huy Ngọ dường như sinh ra để gắn liền với lũ lụt. Khi còn ở Ty Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phú ông phải đối mặt với trận lũ lụt đầu tiên năm 1971.  Đến năm 1988, ông về làm Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá thì một năm sau đó tỉnh này bị trận bão nặng nề nhất trong lịch sử địa phương. Vào một ngày của tháng 10 năm 1997 khi ông từ TP. Hồ Chí Minh bay ra để nhận chức Bộ trưởng Nông nghiệp và PTNT, vừa đáp xuống Nội Bài thì đúng lúc cơn bão số 5 ập tới. Chưa kịp về tới Hà Nội, ông đã phải tức tốc lên máy bay trực thăng đi thẳng ra Côn Đảo chỉ đạo chống bão. Đó là thử thách đầu tiên của ngày làm Bộ trưởng của ông. Thế rồi, trong công tác phòng chống bão lụt, ông thường xuyên trực tiếp chỉ đạo chống chọi những trận lụt bão lịch sử trong những năm 1997 ở Nam Bộ; lũ lụt ở miền Trung năm 1999, lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long năm 2000-2001; bão số 5 ở Nam Định; rồi sạt lở và lũ quét ở các tỉnh phía Bắc như Hương Sơn (Hà Tĩnh), Du Già, Du Tiến (Hà Giang)…

Trong lúc người dân phải chịu cảnh khốn cùng nhất, nhiều người nhớ đến một ông Bộ trưởng lặn lội cùng với nhân dân. Mấy ai quên được trong cơn lũ lụt miền Trung (năm 1999), hình ảnh vị Bộ trưởng Lê Huy Ngọ với chiếc áo phao mũ cối trên người, quần xắn quá gối đang trực tiếp chỉ huy tại Thừa Thiên Huế – đây là điểm nóng ngập lụt nhất của miền Trung và cũng là tỉnh chịu thiệt hại nặng nề nhất. Sự có mặt của ông Lê Huy Ngọ vào đúng thời điểm quan trọng đó dường như đã tiếp thêm sức mạnh cho Huế và đồng bào miền Trung vượt lên lũ lụt.

Nhìn lại những lần chống chọi với bão lụt ấy, ông trầm ngâm nói: “Số phận nó đặt mình vào thời điểm có nhiều trận bão lụt “lịch sử – ác liệt và trên quy mô lớn”. Những trận bão lũ lớn ấy tác động nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của nhân dân. Suốt thời kỳ đó, ông trực tiếp đương đầu với bão lụt. Người ta gọi ông là “Bộ trưởng bão lụt” khi có bão lụt ông cùng với đồng nghiệp và lực lượng vũ trang và nhân dân trực tiếp chiến đấu, giúp dân vượt qua những cơn lũ bão. Khi bão tan rồi, ông lại tiếp tục đi động viên đồng bào cả nước hỗ trợ đồng bào vùng lũ lụt. Người dân rất xúc động và thương ông,  trận lụt bão nào cũng thấy ông trực tiếp chỉ đạo trên hiện trường. Những việc đó ông đã làm được và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân…

Trong những năm làm Bộ trưởng, Trưởng ban Phòng chống bão lụt Trung ương, ông càng thấm thía thêm lời căn dặn của cố Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Nguyễn Thanh Bình: “Ngọ ơi, làm lợi là thủy lợi, nhưng thủy lợi cũng có thủy hại và thiên tai đối với đất nước ta nó bất tử và nặng nề lắm. Vừa rồi, làm thế là tốt nhưng bốn tại chỗ chưa đủ, bị động lắm. Bây giờ thiên tai cực đoan, bất thường lắm, chôn chân tại chỗ, đứng tại chỗ là không được, phải tìm giải pháp mới cho công tác phòng chống lụt bão?”. Qua công tác thực tế, ông cũng đã suy nghĩ nhiều về điều đó. Vì vậy cứ sau một trận bão lụt lớn ông yêu cầu cơ quan chuyên môn phải kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm. Và đến tổng kết 10 năm chống bão lụt (1997-2007), ông đã đưa ra phương châm mới là: “Phải chủ động phòng chống tránh; Phải ứng phó kịp thời và quyết liệt, khắc phục có hiệu quả nhưng phải tính đến tái thiết lâu dài”.

Ngày nay biến đổi khí hậu rất phức tạp và khó lường. Vấn đề không chỉ là chủ động phòng – chống – tránh mà còn phải “lợi dụng và thích ứng” mới bền vững được. Ông yêu cầu cán bộ muốn giúp dân chống bão lụt có hiệu quả thì phải “cùng xuống với dân và phải đi trước bão”. “Phải chủ động phòng chống tránh. Chống không được thì phải tránh, phải trốn, không có gì phải ngại cả, gọi là tránh voi không xấu mặt nào. Chính cái chủ động phòng, chống, tránh bão lụt của chúng ta trong 10 năm (1997-2007) đã giảm bớt những thiệt hại về người và tài sản, giảm bớt nỗi đau của người dân trong lúc lụt bão. Và không chỉ có chúng ta, tôi thường được đi báo cáo về tổ chức phòng chống tránh lụt bão của Việt Nam trong các hội nghị quốc tế và họ rất hoan nghênh. Liên hiệp quốc đã tặng Việt Nam bằng khen đặc biệt về công tác phòng chống lụt bão năm 2000” – ông Lê Huy Ngọ khẳng định.

Từ tháng 6/2004 ông đã từ nhiệm chức Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT và Chính phủ lại tiếp tục bổ nhiệm ông giữ chức Trưởng ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương. Ông đã làm với tinh thần trách nhiệm cao và dày dạn hơn. Tôi hỏi ông: “Lúc đó bác nghĩ thế nào?” Ông ngừng lại và chậm rãi: “Nghĩ về nghề nghiệp, nghĩ về đồng nghiệp, nghĩ về nông thôn nó giúp mình vượt qua và càng say mê với công việc hơn…”. Ông cười nhỏ nhẹ và kết thúc buổi làm việc./.

Khương Lực