Chính phủ và quá trình kiện toàn cơ quan quản lý ngành nông, lâm ngư nghiệp thời kỳ1955-1975: Bài 1: Chính phủ và quá trình Thành lập Bộ Nông lâm, Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường quốc doanh, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường

Ngày: 29/10/2016

Thành lập  Bộ Nông lâm

Để nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế, Chính phủ chủ trương kiện toàn hệ thống tổ chức, thành lập một số cơ quan Trung ương cho phù hợp với yêu cầu mới([1]). Trong thành phần Chính phủ được kiện toàn năm 1952, Bộ Canh nông tiếp tục được giao quản lý các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; Bộ Giao thông công chính quản lý lĩnh vực thủy lợi; Bộ Công thương quản lý lương thực, thực phẩm. Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhiệm vụ quản lý các ngành của ba Bộ có nhiều thay đổi trong giai đoạn từ năm 1955 trở đi.

Trong kỳ họp đầu tháng 2 năm 1955 dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ ra nghị quyết đổi tên Bộ Canh nông thành Bộ Nông lâm và cử ông Nghiêm Xuân Yêm giữ chức Bộ trưởng. Trước đó, từ tháng 3 năm 1954, ông Nghiêm Xuân Yêm đã được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Canh nông.

Ngày 20 tháng 9 năm 1955, trong kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa I, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội đã thông qua quyết định kiện toàn Chính phủ. Chính phủ được mở rộng và bổ sung([2]), có 17 bộ và một Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Bộ Giao thông công chính được tách thành hai Bộ là Bộ Giao thông và Bưu điện, Bộ Thủy lợi và Kiến trúc. Bộ Công thương được tách ra thành Bộ Công nghiệp và Bộ Thương nghiệp. Theo đó, nhiệm vụ quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp giao  Bộ Nông lâm ; quản lý thủy lợi giao Bộ Thủy lợi và Kiến trúc; quản lý lương thực giao Bộ Thương nghiệp, chế biến thực phẩm giao Bộ Công nghiệp. Cũng trong ngày 20 tháng 9 năm 1955, Chính phủ có quyết định tăng cường cho  Bộ Nông lâm  Thứ trưởng Lê Duy Trinh([3]). Đội ngũ  lãnh đạo Bộ tiếp tục được tăng cường trong các năm tiếp theo. Ngày 21 tháng 5 năm 1958, Hội đồng Chính phủ đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết nghị bổ sung thêm cho  Bộ Nông lâm  hai Thứ trưởng là các ông Trần Hữu DựcNguyễn Tạo. Đến trung tuần tháng 5 năm 1959, sau kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa II, thành phần Chính phủ được kiện toàn lại, trong đó có bốn Phó Thủ tướng, 14 Bộ trưởng. Ông Nghiêm Xuân Yêm tiếp .

Việc chuyển Bộ Canh nông thành  Bộ Nông lâm  từ năm 1955 để tập trung chỉ đạo sản xuất nông, lâm nghiệp đã góp phần nhanh chóng khôi phục nền kinh tế ở miền Bắc. Tuy nhiên, thời kỳ hoạt động của  Bộ Nông lâm  chỉ kéo dài trong vòng 5 năm, từ năm 1955 đến 1960, khi Chính phủ quyết định tách Bộ thành bốn cơ quan mới.

Thành lập Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường quốc doanh, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản năm 1960

Bước vào năm 1960, Chính phủ kiện toàn lại tổ chức theo quy định của Hiến pháp năm 1959. Lúc này, miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam. Ngành nông nghiệp được coi là mặt trận hàng đầu, tổ chức của ngành cần được tăng cường để phát triển mạnh theo chiều sâu tất cả các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp.

Chính vì thế, tại kỳ họp cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Chính phủ có Quyết nghị tách  Bộ Nông lâm  thành bốn tổ chức: (1) Bộ Nông nghiệp, Bộ trưởng là ông Nghiêm Xuân Yêm. Thứ trưởng là các ông Trương Viết Hùng, Phan Văn Chiêu; (2) Bộ Nông trường, Bộ trưởng là ông Trần Hữu Dực; Thứ trưởng là các ông Nguyễn Quang Xá, Nguyễn Văn Trí; (3) Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng cục trưởng là ông Nguyễn Tạo và (4) Tổng cục Thủy sản, Tổng cục trưởng là ông Lê Duy Trinh([4]).

Việc thành lập bốn cơ quan này chính thức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II thông qua ngày 28 tháng 4 năm 1960, Quốc hội khóa II phê chuẩn tại kỳ họp thứ nhất ngày 14 tháng 7 năm 1960, nằm trong số 18 Bộ,  năm Ủy ban và Ngân hàng Nhà nước của Hội đồng Chính phủ([5]).

Từ tháng 7 năm 1960 đến tháng 6 năm 1976, Chính phủ Việt Nam trải qua ba nhiệm kỳ: (7/1960-7/1964); (7/1964-6/1971) và (6/1971-6/1976). Đây cũng là khoảng thời gian có nhiều biến động về tổ chức của các cơ quan quản lý ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Trong thời gian này, Bộ Nông nghiệp và Bộ Nông trường hoạt động cho đến năm 1971, trước khi hợp nhất để thành lập Ủy ban Nông nghiệp Trung ương; Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản tiếp tục hoạt động cho đến năm 1976, trước khi được nâng lên thành các Bộ Lâm nghiệp và Bộ Hải sản. Riêng ngành cao su được thành lập sau ngày giải phóng Miền Nam năm 1975, sau khi các đơn vị cao su ở miền Bắc được tách ra khỏi Ủy ban Nông nghiệp Trung ương.

 

Bộ Nông nghiệp giai đoạn 1960-1971

Có thể coi Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ tại kỳ họp cuối tháng 4 năm 1960, quyết định cơ cấu lại  Bộ Nông lâm  thành bốn tổ chức, là cột mốc ra đời Bộ Nông nghiệp.

Ngày 5 tháng 10 năm 1961, Hội đồng Chính phủ có Nghị định 152-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp. Theo đó, Bộ Nông nghiệp là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác nông nghiệp trong  sản xuất thuộc sở hữu tập thể của nông dân lao động theo đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc để thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản xuất nông nghiệp cho xuất khẩu, tiến lên xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại và một nền khoa học kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến.

Bộ Nông trường giai đoạn 1960-1971

Cùng với sự ra đời của Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường được thành lập từ tháng 4 năm 1960 theo Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ và sự phê duyệt của Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất trong các ngày 14 và 15 tháng 7 năm 1960. Đó là nhu cầu tất yếu tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với một loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp mới của nước ta.

Ngày 29 tháng 9 năm 1961, Hội đồng Chính phủ có Nghị định số 134-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông trường. Theo đó, Bộ Nông trường là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác nông trường quốc doanh theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng và phát triển nông trường quốc doanh do Bộ quản lý; chỉ đạo việc xây dựng và phát triển nông trường quốc doanh do địa phương quản lý, xây dựng kế hoạch khai hoang nhân dân và chỉ đạo các địa phương thực hiện kế hoạch ấy. Các công tác trên nhằm: cung cấp nông sản và tích lũy vốn cho Nhà nước, làm gương mẫu cho các hợp tác xã nông nghiệp, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp và củng cố hậu phương.

 

(Còn nữa)

 

Thu Hương (Tổng hợp)

 (Nguồn: Sách “70 năm Nông nghiệp Việt Nam”    Nxb Lao động, năm 2015)

 


([1]) Trương Hữu Quỳnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn: Lịch sử Chính phủ Việt Nam, Tập 1. Sđd, tr. 289, 290.

([2]) Tại Kỳ họp này của Quốc hội, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng được cử làm Thủ tướng Chính phủ; cử hai phó Thủ tướng là Phan Kế Toại kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Võ Nguyên Giáp kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam

([3]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 22, 77.

([4]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 428-429.

([5]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 442.