Chính phủ và quá trình kiện toàn cơ quan quản lý ngành nông, lâm ngư nghiệp thời kỳ1955-1975: Bài 2: Chính phủ và quá trình kiện toàn Ủy ban Nông nghiệp Trung ương, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản giai đoạn 1960-1976

Ngày: 30/10/2016

Ủy ban Nông nghiệp Trung ương giai đoạn 1971-1976

Ngày 1 tháng 4 năm 1971, theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa III phê chuẩn việc thành lập Ủy ban Nông nghiệp Trung ương trên cơ sở hợp nhất Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường và Ban Quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp([1]). Đây là mô hình tổ chức quản lý ngành khá đặc biệt so với các thời kỳ trước. Việc chuyển từ Bộ sang Ủy ban, hợp nhất nhiều Bộ, ngành vào một tổ chức được thực hiện theo chủ trương tăng cường quản lý nhà nước đối với  nông nghiệp rộng lớn. Cơ chế Ủy ban cho phép đẩy mạnh sự phối kết hợp giữa các bộ ngành có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn dưới sự chỉ đạo chủ động của Ủy ban, mà trong thành phần Ủy ban có đầy đủ đại diện của các bộ ngành đó. Ủy ban Nông nghiệp Trung ương là cơ quan của Hội đồng Chính phủ, chịu trách nhiệm về toàn bộ phong trào sản xuất nông nghiệp theo đúng đường lối, chính sách và chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện thâm canh, chuyên canh, sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tạo nhiều nông sản hàng hóa để đảm bảo nhu cầu của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và đời sống nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản để xuất khẩu. Để làm những việc trên đây phải ra sức quản lý một cách có hiệu quả và tiết kiệm mọi năng lực sản xuất (đất đai, nhân lực, vật tư…), phải ra sức cải tiến quản lý hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đảm bảo quyền làm chủ của xã viên tăng cường các cơ sở quốc doanh, đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật trong nông nghiệp([2]).

Thành phần của Ủy ban Nông nghiệp Trung ương được Hội đồng Chính phủ quyết định bao gồm Chủ nhiệm Ủy ban là Phó Thủ tướng Hoàng Anh kiêm chức; Các Phó Chủ nhiệm thường trực là Bộ trưởng Nghiêm Xuân Yêm và Bộ trưởng Nguyễn Văn Lộc; Các Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm là Bộ trưởng Bộ Thủy lợi Hà Kế Tấn, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương Lê Quảng Ba, Bộ trưởng Bộ Lương thực và Thực phẩm Ngô Minh Loan, Tổng cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Tạo. Các ủy viên Ủy ban gồm 11 người đại diện cho nhiều Bộ, ngành là các ông: Nguyễn Chương, Hoàng Bá Sơn, Chu Văn Biên, Lê Trung Đình, Nguyễn Xuân Tại, Lê Duy Trinh, Phan Văn Chiêu, Vũ Thơ, Trần Quốc Mạnh, Ngô Duy Đông và Nguyễn Cao Đàm([3]).

Ngày 6 tháng 6 năm 1975, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa V, Quốc hội đã bầu Hội đồng Chính phủ nhiệm kỳ 1975 – 1976, theo đó ông Võ Thúc Đồng tiếp tục được cử giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương; các ông Nghiêm Xuân YêmNgô Minh Loan được cử giữ chức Bộ trưởng, Phó Chủ nhiệm Thường trực([4]). Ủy ban Nông nghiệp Trung ương tiếp tục tồn tại đến hết nhiệm kỳ V, khi Quốc hội cả nước khóa VI thành lập Chính phủ mới vào tháng 7 năm 1976.

Ủy ban Nông nghiệp Trung ương tiếp nhận nhiệm vụ và hệ thống tổ chức quản lý ruộng đất từ Bộ Nông nghiệp cũ. Để tăng cường công tác quản lý ruộng đất, ngày 28 tháng 6 năm 1971 Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 125-CP, theo đó, năm 1972, Ủy ban Nông nghiệp Trung ương đã tách Vụ Quản lý ruộng đất và quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp thành ba cơ quan là Vụ Quản lý ruộng đất, Ban Phân vùng và quy hoạch nông nghiệp và Viện Thổ nhưỡng nông hóa.

Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất (từ 24 tháng 6 đến 4 tháng 7 năm 1976), Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1976-1981 được bầu gồm 39 thành viên, trong đó Ủy ban Nông nghiệp Trung ương được đổi thành Bộ Nông nghiệp và thành lập các Bộ mới: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Hải sản. Các Bộ cũ như Thủy lợi (thành lập năm 1962), Lương thực và Thực phẩm (thành lập năm 1969) được giữ nguyên.

Tổng cục Lâm nghiệp giai đoạn 1960-1976

Tổng cục Lâm nghiệp là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, được thành lập trên cơ sở Cục Lâm nghiệp tách ra từ  Bộ Nông lâm  theo Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ tháng 4 năm 1960, nhằm tăng cường công tác quản lý ngành lâm nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Ngày 28 tháng 4 năm 1960, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II đã tán thành Nghị quyết này của Hội đồng Chính phủ. Ông Nguyễn Tạo, nguyên Thứ trưởng  Bộ Nông lâm  được cử giữ chức Tổng cục trưởng đầu tiên của Tổng cục Lâm nghiệp([5]). Cơ quan của Tổng cục Lâm nghiệp đặt trụ sở tại 123 phố Lò Đúc, Hà Nội. Tổng cục Lâm nghiệp hoạt động từ tháng 4 năm 1960 đến tháng 7 năm 1976, khi Bộ Lâm nghiệp thành lập. Tổng cục lâm nghiệp là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác lâm nghiệp theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch quản lý rừng và đất rừng, phát triển sản xuất lâm nghiệp, xây dựng khoa học kỹ thuật lâm nghiệp, nhằm xây dựng kỹ thuật lâm nghiệp, nhằm xây dựng lâm nghiệp và xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi mặt lợi ích và tác dụng của rừng để phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng([6]).

Đến tháng 6 năm 1976, Quốc hội đã chính thức thành lập Bộ Lâm nghiệp thay cho Tổng cục Lâm nghiệp. Ngành Lâm nghiệp bước sang giai đoạn phát triển mới, từ 1976 đến 1995, trước khi Bộ Lâm nghiệp được hợp nhất với các bộ khác để thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tổng cục Thủy sản giai đoạn 1960-1976

Tổng cục Thủy sản được thành lập trên cơ sở Vụ Ngư nghiệp tách ra từ  Bộ Nông lâm  theo Quyết nghị của Hội đồng Chính phủ tháng 4 năm 1960, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II tán thành ngày 28 tháng 4 năm 1960. Việc thành lập Tổng cục Thủy sản là nhằm tăng cường công tác quản lý ngành thủy sản, thực hiện các nhiệm vụ phát triển thủy sản, phát huy tốt tiềm năng và vai trò của thủy sản đối với nền kinh tế đất nước trong bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đảm bảo cung cấp nhiều thực phẩm cho nhân dân và quốc phòng. Tổng cục Thủy sản hoạt động 16 năm, từ tháng 4 năm 1960 đến tháng 7 năm 1976 khi Bộ Hải sản được thành lập. Ông Lê Duy Trinh, nguyên Thứ trưởng  Bộ Nông lâm  (được bổ nhiệm ngày 20 tháng 9 năm 1955), được cử giữ chức Tổng cục trưởng đầu tiên của Tổng cục([7]).

Tổng cục Thủy sản là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác thủy sản và quản lý tốt các hợp tác xã nghề các theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ và kế hoạch phát triển nuôi, bảo vệ, khai thác, thu mua, chế biến thủy sản, cung cấp và cải tiến công cụ làm nghề cá, nhằm tiến lên công nghiệp hóa nghề cá, tận dụng mọi khả năng nguồn lợi thủy sản, để thỏa mãn nhu cầu thực phẩm cho nhân dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hóa cho xuất khẩu, và góp phần củng cố quốc phòng([8]). Tổng cục Thủy sản có nhiệm vụ, quyền hạn tương tự như một Bộ của Hội đồng Chính phủ quản lý thống nhất lĩnh vực nghề cá.

***

Trải qua trải các giai đoạn khôi phục, phát triển và cải tạo kinh tế (1955-1960), những năm thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965) và giai đoạn cả nước có chiến tranh (1965-1975), nông nghiệp miền Bắc đã đạt được các thành tựu phát triển nhờ các yếu tố tích cực, đúng đắn trong đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và sức mạnh của quần chúng nhân dân, của tổ chức và đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức lao động ngành nông nghiệp.

Thu Hương (Tổng hợp)

 (Nguồn: Sách “70 năm Nông nghiệp Việt Nam”    Nxb Lao động, năm 2015)


([1]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 1101, 1115

([2]) Hội đồng Chính phủ: Nghị định số 234-CP ngày 18 tháng 12 năm 1971 quy định chức năng và tổ chức bộ máy của Ủy ban Nông nghiệp Trung ương. Công báo số 12A-1971.

([3]) Hội đồng Chính phủ: Quyết định số 67-CP ngày 23 tháng 4 năm 1971. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

([4]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 449.

([5]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 428-429.

([6]) Hội đồng Chính phủ: Nghị định số 140-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Lâm nghiệp. Thuvienphapluat.vn

([7]) Ban chỉ đạo biên soạn lịch sử Chính phủ Việt Nam: Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, tập II (1955-1976), Sđd, tr. 428-429.

([8]) Theo quy định tại Nghị định số 156-CP ngày 5 tháng 10 năm 1961 của Hội đồng Chính phủ.