“Có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”

Ngày: 26/05/2016

Thủy lợi đã làm nên một kỳ tích trong 70 năm qua, đó là: làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đem lại những lợi ích to lớn cho nhân dân. Và như lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Thủy lợi toàn miền Bắc năm 1959: “Việt Nam có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước, có đất và có nước thì mới thành Tổ quốc, có đất lại có nước thì dân giàu, nước mạnh”.

Thủy lợi là biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp

Năm 1945, đất nước vừa độc lập, trước muôn vàn khó khăn, Chính phủ đã ban hành các Sắc lệnh về Bảo vệ đê điều, hộ đê, phòng chống lụt, bảo vệ quản lý hệ thống nông giang, mở rộng diện tích tưới. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thủy lợi đã được coi là biện pháp hàng đầu để bảo vệ và phát triển sản xuất nông nghiệp.

Một thời gian khó

Tháng Tám năm 1945, đúng thời điểm cả nước khởi nghĩa dành chính quyền thì sông Hồng xuất hiện trận lũ lịch sử, vỡ đê nhiều nơi, gây ngập lụt nghiêm trọng. Chính quyền cách mạnh mới ra đời, Bác Hồ, Chính phủ, Bộ Giao thông Công chính đã lo chỉ đạo nhân dân hàn khẩu đê vỡ, phục hồi đời sống sản xuất. Đảng ta đã xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, thủy lợi là biện pháp hàng đầu để phát triển nông nghiệp. Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta luôn dành cho công tác thủy lợi sự quan tâm to lớn. Bác Hồ đã dạy: Nhiệm vụ của chúng ta làm cho đất và nước điều hòa với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sinh thời, năm nào Bác cũng có nhiều bài báo động viên nhân dân chống hạn, chống úng, chống lũ. Người đi kiểm tra tình hình và tham gia trực tiếp cùng với nhân dân.

Ông Nguyễn Cảnh Dinh – người giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi trong 15 năm (1981-1995) hồi tưởng: Nhìn lại ngày Cách mạng mới thành công, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời với một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, các thiên tai như hạn hán, úng lụt thường xuyên là mối đe dọa lớn đối với nhân dân ta. Công trình thủy lợi tưới tiêu cả nước chỉ có 13 hệ thống, trong đó nhiều hệ thống làm còn dở dang, không đạt năng lực thiết kế tưới 30 vạn ha, tiêu 8 vạn ha.  Ở miền Bắc nhiều tỉnh, nhiều huyện còn bị hạn hán nghiêm trọng, nước sinh hoạt cho người, cho chăn nuôi gia súc về mùa khô rất khó khăn. Vào mùa mưa, nhiều vùng rộng lớn ở đồng bằng sông Hồng như Bình Lục (Hà Nam), Phú Xuyên (Hà Tây cũ) hay phần lớn của tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình, Quế Võ (Bắc Ninh)… mưa xuống không tiêu thoát đi được, nước ngập mênh mông, phải “sống ngâm da chết ngâm xương”, mùa khô lại thiếu nước, chịu cảnh “chiêm khê mùa thối”. Khu vực miền Trung mùa mưa thường bị lũ tràn gây hại lớn, né tránh lũ để sản xuất là cấp bách, nhưng lại không có nước. Đê Bắc bộ và Thanh – Nghệ – Tĩnh bình quân 2-3 năm bị vỡ một lần.

Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 1975, trừ vùng gần sông Tiền, sông Hậu phát triển trù phú, các nơi khác chỉ sản xuất lúa mùa năng suất thấp; diện tích bị chua phèn, bị xâm nhập mặn rất rộng, hoang hóa còn nhiều – hàng năm trên 1,4 triệu ha bị ngập lũ, 1,8 triệu ha đất phèn và đất phèn mặn trong đó 0,7 triệu ha đất phèn nhiều, 1,7 triệu ha bị ảnh hưởng nặng. Nhiều vùng đầu mùa mưa, phèn bị rửa trôi dồn về kênh rạch, nước đỏ quạch hoặc xanh lè, tôm cá đều không sống nổi, dân không thể trụ lại được vì không có nước ngọt. Đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ, các cánh đồng miền núi và Tây Nguyên thì cứ 10 năm có 9 năm hạn, nước dùng cho sinh hoạt của nhân dân trong vùng cũng rất khó khăn. Các vùng khác hoàn toàn bị bỏ trắng về thủy lợi.

Thủy lợi là biện pháp hàng đầu

Cuộc cách mạng về cơ cấu cây trồng, cơ cấu giống, tạo ra một bước ngoặt trong sản xuất nông nghiệp ở miền Bắc, được mở ra bằng vụ đông, vụ lúa xuân trở thành vụ sản xuất chính, phong trào tăng năng suất với nhiều điển hình năng suất rất cao trước hết là bởi yếu tố thủy lợi đã được giải quyết. Đồng bằng sông Cửu Long nhờ giải quyết thủy lợi tốt, đã khắc phục được chua phèn, xâm nhập mặn, bảo đảm nước ngọt quanh năm, đã tạo tiền đề mở rộng diện tích canh tác, nhất là chuyển đổi thắng lợi vụ lúa nổi năng suất thấp thành 2 vụ Đồng Xuân và Hè Thu năng suất cao, có nơi còn làm được 3-4 vụ.

Nói thì dễ vậy, nhưng để đạt được những đổi thay kể trên là cả một quá trình khó khăn, vất vả. Hơn ai hết, chính những người sống ở thời “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” hay “nghiêng đồng đổ nước ra sông” nhằm bảo vệ và duy trì sản xuất nông nghiệp mới thấy hết được tác dụng của các hệ thống thủy lợi. Vào những năm 1960, hình ảnh hàng nghìn, hàng vạn người dùng gàu sòng, gàu dai, guồng đạp chân để đưa nước vào đồng hay tiêu thoát nước ra sông cho thấy cuộc chiến giành giật với thủy thần vô cùng vất vả và gian nan nhưng cũng không kém vẻ hào hùng, tráng lệ. Bây giờ một máy bơm nước có thể thay thế công sức của cả nghìn người.

Trong những năm 1975-1980, khi ông Nguyễn Thanh Bình làm Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, đã triển khai nghiên cứu, làm thử vài công trình thủy lợi để rửa chua phèn, dẫn ngọt nhưng do làm chưa đồng bộ nên chua phèn lan ra, khiến nhiều người phàn nàn. Vấn đề chua phèn, xâm nhập mặn của vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được giải quyết đồng bộ trong thời kỳ ông Nguyễn Cảnh Dinh làm Bộ trưởng Bộ Thủy lợi: “Lúc ấy vẫn tiếp tục đồ án kỹ thuật có từ trước nhưng vì có lực lượng bao gồm con người, cơ giới và đầu tư cao lên, mình có thể làm ồ ạt, rất nhanh để đưa ra hệ thống kênh rạch đồng bộ cho từng vùng Đồng Tháp, An Giang, Long An, trong đấy có kênh Hồng Ngự mà người ta hay nói đến dẫn nước từ phía sông Tiền sang bên kia sông Vàm Cỏ”.

Theo ông Nguyễn Cảnh Dinh, đối với vùng ven biển, giải pháp thủy lợi là phải làm hệ thống cống ngăn mặn ven biển, dẫn kênh nước ngọt từ trên này xuống, đảm bảo nước ngọt quanh năm. Thời ông đã làm được khá nhiều công trình và sau này vẫn tiếp tục làm công trình ngày càng to hơn, ngăn vùng mặn, mở rộng vùng tưới ngọt. Cùng với đó, một loạt công trình thủy lợi ở miền Trung, Tây Nguyên và vùng Đông Nam bộ cũng bắt đầu được đầu tư và phát huy tác dụng.

Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển đến năm 1995, ông Nguyễn Cảnh Dinh chốt lại: Chúng ta đã khôi phục lại các công trình cũ bị chiến tranh tàn phá, phát triển mới hàng loạt hệ thống công trình cung cấp nước, tháo nước, chống lũ, ngăn rửa mặn, khắc phục chua phèn, cải tạo đất; tạo tiền đề mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, thâm canh, chuyển vụ Đông Xuân và Hè Thu thắng lợi. Đã tưới chắc cho 5,6 triệu ha đạt 88% diện tích gieo trồng lúa; 56 vạn ha rau màu cây công nghiệp, tiêu úng 86,5 vạn ha; cung cấp nguồn nước sinh hoạt của nhân dân và chăn nuôi gia súc cho nhiều vùng nông thôn rộng lớn; tạo điều kiện tiêu thoát và bảo đảm nguồn nước cho nhu cầu của công nghiệp, đô thị. Các sông miền Bắc chống được lũ lớn nhất đã xảy ra, hàng nghìn km bờ bao chống lũ sớm bảo vệ lúa Hè Thu. Tạo thêm nhiều luồng lạch đường thủy, góp sức phát triển thủy điện, phát triển giao thông nông thôn, mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản; cải thiện môi trường sinh thái nhiều vùng rộng lớn; góp phần phân bổ lại dân cư, xây dựng nông thôn mới…./.

 

Box:

Cả cuộc đời đi đắp đê, chống lụt!

Ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, GS. TSKH Phạm Hồng Giang, Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, hiện đang là Chủ tịch Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam vẫn lưu giữ mãi kỷ niệm cùng bố đi đón Bác Hồ về thăm và động viên bà con đắp đê chống lụt đầu năm 1946 ở Hưng Yên: “Lúc đó, tôi mới được 3 tuổi. Cha tôi công tác ở Hưng Yên đã bế tôi đi đón Bác Hồ, được đứng hàng đầu và được Bác Hồ ôm hôn. Về nhà, tôi không cho mẹ tôi rửa mặt vì muốn lưu giữ làm kỷ niệm. Như một duyên nợ về sau này cả cuộc đời đi đắp đê, chống lụt, gần như cả cuộc đời như thế”./.

 

 

Thủy lợi đến đâu, ấm no thịnh vượng đến cùng

“Phát triển về thủy lợi là sự khác biệt chính làm nên thành tựu về đảm bảo an ninh lương thực của đất nước ta trong 30 năm qua. Với kinh nghiệm ít ỏi của mình, nhưng tôi luôn cảm nhận thấy rất rõ khi thủy lợi đi đến đâu thì đói nghèo ra đi, ấm no và thịnh vượng đến cùng” – Bộ trưởng Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát nhấn mạnh khi nói về những dấn ấn của thủy lợi đối với ngành Nông nghiệp và PTNT.

Việt Nam có hệ thống thủy lợi lớn vào bậc nhất trên thế giới

GS. TS Vũ Trọng Hồng, Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam dẫn một đánh giá khách quan của Ngân hàng Thế giới (WB) cho hay: “Mạng lưới thủy lợi Việt Nam là lớn nhất trên thế giới với hàng nghìn công trình lớn nhỏ. Chúng ta mới kể đến công trình lớn thứ 15, nhưng WB đánh giá hàng nghìn công trình lớn nhỏ, mạng lưới thủy lợi Việt Nam là lớn nhất thế giới, có thể đứng cạnh Trung Quốc và Mỹ”.

Thực vậy, từ chỗ chỉ có 13 hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu 77.000 ha năm 1945, đến nay cả nước đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống công trình thủy lợi với 6.886 hồ chứa nước, 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới, tiêu lớn, 234.000km kênh mương, 25.960 km đê các loại. Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, tiêu cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp, nâng dần mức bảo đảm phòng, chống lũ bảo vệ các khu đô thị, khu dân cư và phục vụ sản xuất. Ngành thủy lợi đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, phát triển nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện môi trường.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Hoàng Văn Thắng cho hay, trong khoảng 10 năm trở lại đây với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, các nguồn vốn ODA và nguồn vốn khác hệ thống thủy lợi trên địa bàn cả nước đã được rà soát, đầu tư và nhiều hệ thống công trình thủy lợi rất lớn của đất nước đã được đầu tư hoàn chỉnh. Các công trình tiêu biểu như hệ thống Cửa Đạt, hệ thống Ngàn Trươi – Cẩm Trang, hệ thống Bản Mồng – Tả Trạch, cống Đò Điểm, cải tạo các hệ thống thủy lợi sông Tích, nâng cấp hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải… Ở vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên đã đầu tư hàng loạt công trình lớn, tiêu biểu như hệ thống Nước Trong để tiếp nước, hệ thống Bình Định – Vân Phong, các hệ thống công trình thủy lợi lớn trong khu vực miền Trung. “Vừa qua, nguồn lực đã đầu tư cho hệ thống thủy lợi rất là lớn – có những hệ thống cả chục nghìn tỷ như Cửa Đạt đã xây dựng xong” – Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng nhấn mạnh.

Từ năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình đảm bảo an toàn hồ chức và trong vòng hơn 10 năm, chúng ta đã đầu tư 12.000 tỷ đồng để sửa chữa trên 600 hồ chứa các loại, trong đó chủ yếu là các hồ chứa lớn và các hồ chứa này đã được áp dụng các tiêu chuẩn an toàn của thế giới.

Phát triển thủy lợi đã hình thành nền tảng phát triển nông nghiệp trong quá trình đổi mới, đóng góp quan trọng vào kết quả đảm bảo an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phòng chống thiên tai lũ lụt, bảo vệ an toàn cho sản xuất và đời sống cho toàn dân. Thủy lợi không những có đóng góp quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều loại nông sản có vị thế cao trên thị trường quốc tế. “Từ chỗ không có gạo để bán cho dân, cho cán bộ ăn hàng tháng đến chỗ có đủ gạo và có gạo để xuất khẩu là một sự đột phá rất lớn. Và không chỉ có gạo mà còn thủy sản và nhiều nông sản khác nữa có lượng và giá trị xuất khẩu lớn trên thế giới, trong đó thủy lợi đóng vai trò tiên phong trong giải quyết vấn đề nông nghiệp của chúng ta” – ông Lê Huy Ngọ, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT nhấn mạnh.

Với những thành tích đáng nể ấy, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT Cao Đức Phát đánh giá cao nỗ lực của các thế hệ cán bộ, công nhân viên ngành thủy lợi đã góp phần bảo vệ thành quả phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo an ninh – quốc phòng. “Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các thế hệ các nhà thủy lợi đã và đang tạo dựng cho đất nước một hệ thống đồ sộ các công trình và các thể chế thủy lợi với trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng cao, làm nền tảng để phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững. Chính sự phát triển về thủy lợi là sự khác biệt chính làm nên thành tựu về đảm bảo an ninh lương thực của đất nước ta trong 30 năm qua. Với kinh nghiệm ít ỏi của mình, nhưng tôi luôn cảm nhận thấy rất rõ khi thủy lợi đi đến đâu thì đói nghèo ra đi, ấm no và thịnh vượng đến cùng” – Bộ trưởng Cao Đức Phát khẳng định.

Tái cơ cấu thủy lợi hướng đến sự bền vững

Ngành thủy lợi đang bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều thử thách to lớn. Toàn ngành Nông nghiệp và PTNT đang nỗ lực triển khai thực hiện 2 chương trình to lớn đầy tham vọng, đó là tái cơ cấu nền nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững và xây dựng nông thôn mới. Việc triển khai thực hiện 2 chương trình này đang tạo ra sự chuyển biến sâu sắc trong nông nghiệp và nông thôn nước ta. Sự chuyển biến đó cũng đòi hỏi phải có sự phát triển mới trong ngành thủy lợi. Trước hết, thủy lợi phải định hướng rõ hơn để phát huy các lợi thế so sánh của đất nước, phát triển các loại nông sản hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Mặt khác, công tác thủy lợi ngày càng phải đáp ứng sát hơn các yêu cầu về thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu được dự báo là thách thức lớn nhất của nhân loại và trước hết là của nước Việt Nam chúng ta trong thế kỷ 21.

Để làm được điều này, ngành thủy lợi phải điều chỉnh kết cấu hạ tầng xây dựng đáp ứng sát mục tiêu phát triển nông nghiệp, thủy sản và các ngành kinh tế – xã hội khác theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng cạn, cây công nghiệp và rau hoa. Ngành thủy lợi cũng cần ứng dụng KHCN, sử dụng nước, công trình thủy lợi có hiệu quả. “Thủy lợi như một ngành luôn phải đứng trước thách thức về thiên tai. Ngay giờ phút này, ngành thủy lợi trực 24/24 kiểm soát tất cả những vấn đề về thiên tai trên toàn quốc, rất nhiều lo lắng khi từng công trình một trong giai đoạn thi công, xây lắp và ngay trong quản lý vận hành lúc nào cũng đầy những mối lo về an toàn đập, về hạn hán…” – Thứ trưởng Hoàng Văn Thắng cho hay.

Thách thức là to lớn nhưng với truyền thống tốt đẹp, với bề dày kinh nghiệm được tích lũy, với đội ngũ tâm huyết, với sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước ngành Thủy lợi sẽ tiếp tục phát triển vững chắc, tiếp tục đóng góp to lớn cho sự phát triển của ngành Nông nghiệp và PTNT và của đất nước Việt Nam./.

Box:

Nhân dịp 50 năm Quốc khánh và đúng vào thời điểm sát nhập Bộ, ngày 29/11/1995 Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cho ngành Thủy lợi vì “đã có những cống hiến to lớn qua các giai đoạn cách mạng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”. Đây là phần thưởng cao quý nhất và là sự động viên, cổ vũ to lớn đối với toàn ngành Thủy lợi./.

Hoài Ngọc