Một số vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Ngày: 28/08/2013

I. Thực trạng SX nông nghiệp trong 25 năm đổi mới

1. Lợi thế phát triển

a. Về tài nguyên thiên nhiên

- Khí hậu: Hiếm có nước nào trong khu vực có điều kiện khí hậu đặc thù như Việt Nam. Trải dài trên 15 vĩ tuyến, nước ta có nền khí hậu đa dạng: Nam bộ và Nam Trung bộ là 2 vùng khí hậu nhiệt đới điển hình. Tây Nguyên là vùng khí hậu nhiệt đới trên cao nguyên, từ Thừa Thiên- Huế trở ra Bắc là vùng khí hậu cận nhiệt đới, trong đó, có một số tiểu vùng khí hậu ôn đới. Nền nhiệt độ đa dạng đó cùng với lượng mưa hàng năm lớn, ánh sáng dồi dào tạo điều kiện tự nhiên để phát triển nền nông nghiệp mang bản sắc riêng của Việt Nam.

- Đất đai: Diện tích nước ta trên 33 triệu ha đất lục địa và mặt nước nội địa, có đủ điều kiện phát triển toàn diện các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản theo hướng SX hàng hóa lớn.

b. Về tài nguyên lao động

Với khoảng 90 triệu dân hiện nay, trong đó có tới 60 triệu nông dân có học vấn khá, rất cần cù và sáng tạo là nguồn lực vô giá để phát triển nền nông nghiệp Việt Nam vươn tới tầm cao của thế giới.

2. Những khó khăn và thách thức

Nước ta là nước có nhiều thiên tai, là một trong những nước chịu tác động lớn nhất về biến đổi khí hậu toàn cầu. Phần lớn nông dân Việt Nam trải qua hàng ngàn năm sống trong điều kiện tự cung tự cấp. SX nhỏ và manh mún đang là lực cản kìm hãm sự phát triển nền nông nghiệp Việt Nam.

3. Thành tựu trong 25 năm đổi mới

Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp, là mốc son khởi đầu quá trình đổi mới trong nông nghiệp, tính đến nay đã được 25 năm. Trong khoảng thời gian đó, nền nông nghiệp nước ta gặt hái được những thành tựu to lớn, được nhân dân ta hoan nghênh, được bạn bè thế giới ca ngợi, đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước trong hai thập kỷ qua, chủ yếu là:

- Một, các ngành SX trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều có tốc độ phát triển đáng kể. Thành tựu nổi bật nhất vẫn là SX lúa gạo. Sau khi có Nghị quyết 10 thì ngay lập tức, vào năm 1989 đã bắt đầu XK được 1,42 triệu tấn gạo, từ đó đến nay lượng gạo XK hàng năm tăng dần mà đỉnh cao là năm 2012 đạt 8,1 triệu tấn với kim ngạch 3,7 tỷ USD. Việt Nam đã trở thành nước XK gạo hàng đầu thế giới.

- Hai, kim ngạch XK nông lâm thủy sản Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc. Đến năm 2012, kim ngạch XK nông lâm, thủy sản đạt 27,54 tỷ USD, xuất siêu khoảng 10 tỷ USD. Đã có những mặt hàng có kim ngạch XK lớn như: Gạo; cà phê; cao su; sắn và sản phẩm của sắn; hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản. Kim ngạch xuất siêu chiếm tỷ trọng lớn, đã góp phần đáng kể vào cán cân thanh toán của nước ta.

- Ba, đời sống nông dân và bộ mặt kinh tế nông thôn có thay đổi lớn. Đời sống nông dân được cải thiện đáng kể, trong đó nông dân vùng chuyên canh cà phê, cao su, hồ tiêu, chăn nuôi bò sữa đạt mức sống khá giả. Bộ mặt nông thôn đã có chuyển biến căn bản.

Hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn được phát triển, phần lớn các xã có đường kiên cố đến tận xã, có đủ trạm xá, chợ. Nông dân đủ ăn, con cái được học hành, được thụ hưởng các tiện ích công cộng như điện, nước sạch và được tiếp cận với công nghệ truyền thông hiện đại…, là bước chuyển biến đổi đời của nông dân ta trong 2 thập kỷ qua.

4. Những yếu kém và mâu thuẫn mới phát sinh

- Một là, hiệu quả sử dụng đất, năng suất lao động quá thấp và rất không đồng đều. Theo số liệu năm 2012, tổng giá trị SXNN khoảng 940 ngàn tỷ đồng, doanh thu bình quân đạt khoảng 50 triệu đồng/ha/năm, trong đó ngành nông nghiệp đạt khoảng hơn 80 triệu đồng/ha/năm; ngành nuôi trồng thủy sản đạt khoảng 120 triệu đồng/ha/năm; ngành lâm nghiệp chỉ đạt khoảng 3,4 triệu đồng/ha/năm.

Trong điều kiện đất ít người đông, doanh thu từ ruộng đất quá thấp, là nguồn gốc của tình trạng nghèo túng của phần lớn nông dân nước ta.

- Hai là, tình trạng SX manh mún, phân tán vẫn tồn tại dai dẳng, nhất là các tỉnh miền Bắc và miền Trung.

Nước ta đã có các vùng chuyên canh SX hàng hóa lớn, như vùng SX lúa gạo ĐBSCL, vùng chuyên canh cao su, cà phê ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ, vùng chăn nuôi bò sữa ở nhiều địa phương trên cả nước, phần còn lại là nền kinh tế dựa vào hộ tiểu nông SX nhỏ và siêu nhỏ, công nghệ lạc hậu, tỷ suất hàng hóa rất thấp.

- Ba là, đời sống nông dân nói chung vẫn nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn đang doãng ra, trong đó khoảng cách về mức sống giữa nông dân miền xuôi và miền ngược; giữa vùng trồng lúa và vùng trồng cây công nghiệp, thủy sản cũng đang doãng ra.

Đến nay, GDP nông nghiệp là 200 USD/người/năm, trong khi GDP bình quân cả nước là 1.600 USD/người/năm, có 47,4% nông dân tỏ thái độ chưa hài lòng về cuộc sống hiện tại, có nơi nông dân bỏ ruộng, thậm chí bỏ làng để tìm sinh kế ở nơi khác.

II. Tái cấu trúc, tao bước đột phá mới về nông nghiệp Việt Nam trong vài thập niên tới

Xuất phát điểm từ một nước thiếu đói triền miên trải qua bốn thập kỷ nhập khẩu lương thực, với động lực mới từ quyết sách giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, dựa vào cơ cấu sản nghiệp nông nghiệp có sẵn, lấy trục phát triển trọng tâm là phát triển SX lúa gạo càng nhanh, càng nhiều càng tốt, hướng ra XK, thu hút phần lớn nguồn lực của đất nước đầu tư vào SX lúa gạo, đã tạo ra kỳ tích của nền nông nghiệp, nhất là SX lúa gạo của nước ta trong suốt 25 năm qua.

Nhưng tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hiện nay đã chững lại, hiệu quả của SXNN ngày càng thấp, đời sống nông dân ở một số vùng ngày càng khó khăn, sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới vẫn thấp kém.

 Động lực và cơ cấu sản nghiệp nông nghiệp hiện có đã được khai thác hết mức, đến thời điểm này đã xuất hiện nhiều điều bất ổn đang kìm hãm sự phát triển SXNN của nước ta trong giai đoạn mới. Đòi hỏi bức xúc hiện nay là phải tìm kiếm động lực mới gắn với cơ cấu sản nghiệp mới, để tạo bước đột phá mới, đáp ứng nguyện vọng cải thiện nhanh đời sống nông dân và góp phần phát triển KT-XH đất nước.

Tái cấu trúc nền nông nghiệp nước ta hiện nay là phải xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa lớn với cơ cấu sản nghiệp mới lấy trục phát triển trọng tâm là những sản nghiệp chủ lực có hiệu quả cao, nông dân có lời nhiều, đồng thời tạo ra những sản phẩm có chuỗi giá trị gia tăng cao có sức cạnh tranh quốc tế, đảm bảo nền nông nghiệp hàng hóa của nước ta có đủ thực lực để đứng vững và phát triển trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

Tiêu chí quan trọng nhất về hiệu quả kinh tế của nông nghiệp được tính bằng doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên một đơn vị diện tích đất. Mục tiêu hướng tới là: Với 18 triệu ha đất nông nghiệp, đất trồng rừng kinh tế và mặt nước nuôi trồng thủy sản, mức doanh thu bình quân hiện nay mới đạt 50 triệu đồng/ha/năm, khoảng 20 năm nữa tăng lên 100 triệu đồng/ha/năm và đến 2050 đạt khoảng trên 200 triệu đồng/ha/năm, đảm bảo mức thu lời cho nông dân từ 20 – 30%.

Lợi tức một hộ nông dân từ mức hiện nay là 10 triệu đồng/năm sẽ nâng dần lên 50 triệu đồng/năm, đạt mức sống trung lưu và trong tương lai sẽ tăng lên 100 triệu đồng/năm đạt tiêu chí mức sống giàu có ở nông thôn. (Còn nữa)

Tái cơ cấu nền nông nghiệp bao gồm: Điều chỉnh và nâng cao giá trị gia tăng của các sản nghiệp nông nghiệp hiện có, đồng thời tìm kiếm những sản nghiệp nông nghiệp mới phù hợp, được ứng dụng công nghệ cao với giá trị gia tăng lớn, có thị trường tiêu thụ ổn định.

Nội dung cụ thể về tái cơ cấu nền nông nghiệp chủ yếu là:

1. Trồng trọt: cần có bước điều chỉnh lớn dựa vào bốn trụ cột chính như sau:

a. Cây lương thực:

An ninh lương thực, thực phẩm bao gồm: Lúa gạo, ngô, thịt, trứng, sữa, đường, dầu ăn… Theo đó, phát triển sản xuất lương thực cần đi theo hai hướng.

- Lúa gạo: Hiện nay diện tích gieo cấy lúa của nước ta khoảng 7,75 triệu ha (năm 2012), sản lượng lúa khoảng 40 triệu tấn. Nhưng ngành sản xuất lúa gạo đang là ngành có doanh thu thấp nhất trong toàn ngành trồng trọt, nông dân thu lời rất ít, kim ngạch xuất khẩu lớn, nhưng sức cạnh tranh kém và hiệu quả thấp,

Bởi vậy chỉ để lại khoảng 5,8 triệu ha đất gieo cấy lúa với sản lượng khoảng 35 triệu tấn/năm, đủ đảm bảo gạo ăn cho số dân 100 đến 130 triệu người, bình quân đầu người 250 kg lúa/năm và khoảng 20% lúa dự trữ để đề phòng mọi bất trắc về thiên tai và những tình huống ngoài dự báo, nếu không dùng hết thì dành để xuất khẩu. Như vậy, ngành sản xuất lúa gạo không còn là ngành sản xuất ưu tiên hướng ra xuất khẩu.

- Cây thức ăn chăn nuôi: Với yêu cầu về cuộc sống văn minh ngành sản xuất thức ăn để phục vụ chăn nuôi cũng có tầm quan trọng ngang với sản xuất lúa gạo, là bộ phận không thể tách rời của nội hàm an ninh lương thực – thực phẩm.

Bởi vậy sẽ điều chỉnh giảm 2 triệu ha gieo trồng lúa, tức khoảng 30% trong tổng số diện tích gieo trồng lúa hiện nay ưu tiên để trồng cây làm thức ăn chăn nuôi, chủ yếu là ngô, và cỏ xanh.

Với sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp hàng năm hiện nay là 26 triệu tấn và còn tăng nhanh trong thời gian tới, trong đó cần tới 16 triệu tấn thức ăn chất bột, là thị trường lớn và ổn định đối với sản phẩm ngô.

Ngoài ra, hiệu quả của ngô cao hơn hẳn lúa. Nếu đất trồng lúa phù hợp để trồng ngô thì năng suất ngô trên đất chuyển đổi có thể đạt 10 – 12 tấn/ha/vụ, doanh thu 70 – 80 triệu đồng/ha/vụ, gấp đôi nghề trồng lúa.

b. Cây công nghiệp lâu năm

Các cây công nghiệp lâu năm đang là nhóm cây có thế mạnh của nước ta gồm: Cao su, cà phê, điều, chè, hồ tiêu, kim ngạch xuất khẩu hiện nay đạt 9,1 tỷ USD, chiếm 70% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước, nhưng phần lớn các cây công nghiệp lâu năm đã phát triển tới ngưỡng tối đa.

Do vậy, ngành sản xuất cây công nghiệp lâu năm phải đi theo hướng nâng cao chuỗi giá trị gia tăng của các sản phẩm này.

c. Rau, hoa, quả

Toàn thế giới đều đánh giá sản nghiệp rau, hoa và cây ăn quả tạo ra sản phẩm có giá trị cao đối với loài người là những sản phẩm bổ, ngon, làm thuốc, làm đẹp và tôn tạo cảnh quan, là ngành sản xuất tinh hoa nhất của nền nông nghiệp công nghệ cao, có tỷ suất lợi nhuận cao.

Với thế mạnh về khí hậu đa dạng, nước ta có điều kiện phát triển các ngành sản xuất này cực kỳ phong phú và hiệu quả cao, có lợi thế cạnh tranh lớn trong khu vực và quốc tế.

Cần tập trung trí tuệ để chọn một số ngành sản xuất chủ lực gồm vài loại rau, hoa cao cấp và khoảng trên 10 loài cây ăn quả quý.

Ngành sản xuất rau, hoa, quả là ngành sản xuất phổ biến ở mọi vùng miền đất nước, tạo cơ hội làm giàu phổ biến cho đông đảo nông dân cả nước, đặc biệt, là những vùng đất chật người đông và những vùng có khí hậu đặc thù.

Theo đó, ngành sản xuất rau, hoa, quả phải trở thành ngành sản xuất chủ lực tạo ra quả đấm mới của ngành trồng trọt phục vụ yêu cầu đời sống nhân dân và có khả năng tạo ra kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD/năm trong tương lai không xa.

d. Cây (kể cả con) làm thuốc

Cây dược liệu rất phù hợp với điều kiện và tập quán canh tác của đồng bào miền núi, cũng có thể coi là cây lâm sản ngoài gỗ quan trọng của ngành lâm nghiệp nước nhà.

2. Chăn nuôi

Là ngành sản xuất quan trọng chiếm khoảng 30% tổng giá trị nông nghiệp. Trong những năm qua ngành chăn nuôi đã có bước phát triển đáng kể nhưng chưa tạo lập được ngành chủ lực có hiệu quả cao.

Trong hơn 10 năm gần đây, ngành chăn nuôi bò sữa của Việt Nam có bước phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng vượt dự kiến ban đầu. Năm 2012 tổng đàn bò sữa đạt 167 nghìn con, tăng 17%, sản lượng sữa 381 ngàn tấn tăng 10,373% so với năm 2011. Với nguồn vốn đầu tư lớn của một số doanh nghiệp lớn, tổng đàn bò sữa và sản lượng sữa bò của nước ta sẽ tăng gấp đôi trong vài ba năm tới.

Ngành chăn nuôi bò sữa đang là một ngành đi tiên phong trong việc áp dụng công nghệ cao của thế giới về chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa, như sử dụng giống bò sữa cao sản; ứng dụng công nghệ cấy phôi và sử dụng tinh giới tính; công nghệ nuôi bò sữa trong chuồng và công nghệ vắt sữa hiện đại; sử dụng giống cỏ mới và công nghệ thức ăn hiện đại, đã hội tụ được hầu hết các công nghệ cao của ngành công nghiệp sữa thế giới.

Năng suất sữa/bò năm 2000 chỉ đạt 3,5 tấn, nay đã tăng lên 4,6 tấn/con/chu kỳ vắt sữa, đạt mức trung bình của thế giới. Ngành chăn nuôi bò sữa cũng là ngành có thu nhập cao, đạt trên 500 triệu đồng/ha/năm trở lên, đang là ngành làm giàu cho nông dân ở nhiều vùng.

Nếu tiêu thụ sữa của nước ta đạt 60 lít/người/năm, tương đương mức tiêu thụ sữa của những nước đang phát triển thì nhu cầu sữa của 100 triệu dân hiện nay và 130 triệu dân trong tương lai, sản lượng sữa hàng năm của nước ta cần 6-8 triệu tấn/năm, cần tổng đàn bò sữa khoảng 2 triệu con, trong đó, có 1 triệu con vắt sữa.

Với công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ nuôi bò trong chuồng có thiết bị điều khiển nhiệt độ và độ ẩm thì nhiều vùng của nước ta đều có thể phát triển chăn nuôi bò sữa, dựa vào lợi thế phát triển thức ăn xanh có tốc độ tăng trưởng sinh khối cực lớn.

3. Ngành thủy sản

Tiếp tục phát triển ngành đánh bắt cá biển, nhất là ngành đánh bắt xa bờ, khai thác triệt để mặt nước, trong đó có mặt nước của các hồ chứa lớn. Phát triển nuôi các loại thủy sản quý hiếm, cao cấp, trong đó có ngành nuôi cá nước lạnh gắn với chế biến những sản phẩm cao cấp để xuất khẩu.

Nhanh chóng nắm bắt được công nghệ mới để nuôi tảo xoắn, là loại rau thủy sản cao cấp có năng suất 60-80 tấn/ha/năm, hàm lượng protein 60-70%, giàu chất khoáng và vitamin, được đánh giá là nguồn protein vô tận của loài người trong thế kỷ 21, đã được một số nước trên thế giới nuôi trồng trên diện rộng.

 Tảo xoắn phù hợp môi trường nuôi nước ngọt và nước mặn, khí hậu nhiệt đới, mở ra khả năng phát triển cực kỳ to lớn và rất có thể trở thành ngành thủy sản quan trọng ở các vùng miền cả nước, kể cả những vùng đất bị nước biển nhấn chìm do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.

4. Ngành lâm nghiệp

Phải tạo ra chuyển biến bước ngoặt đối với ngành kinh tế lâm nghiệp, khi mà ngành này trong thời gian dài sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, lãng phí nguồn tài nguyên to lớn về đất rừng mà ông cha ta đã cho rằng nước ta là nước “tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”, biến hàng chục triệu ha đất lâm nghiệp trở thành địa bàn sản xuất làm giàu cho nông dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước.

Ưu tiên phát triển ngành trồng cây lấy gỗ và sản xuất đồ gỗ, vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, vừa góp phần sản xuất vật liệu tái tạo cho nhu cầu xây dựng mà thế giới đang nâng lên thành chính sách “an ninh gỗ”.

Phát triển các ngành sản xuất lâm nghiệp ngoài gỗ để nâng cao hiệu quả của đất rừng. Trong tương lai không xa, ngành lâm nghiệp hướng tới một sản nghiệp mới hứa hẹn tạo nên bước nhảy vọt về kinh tế lâm nghiệp nước nhà, hướng sử dụng nguyên liệu sinh khối để sản xuất diesel sinh học. (Còn nữa)

Với công nghệ mới, cứ 5 tấn sinh khối (thân cây, cành ngọn, lá) thì sản xuất được 1 tấn diesel sinh học. Dự báo sản lượng sinh khối nước ta có khả năng hàng năm sản xuất được 50 triệu tấn dầu quy đổi, doanh thu đạt 50 tỷ USD/năm, đem lại nguồn doanh thu tăng đột biến trong tổng giá trị ngành nông lâm nghiệp nước nhà.

 Nguyên Công Tạn – Nguyên Phó thủ tướng Chính phủ