Những thay đổi kỳ diệu của nông nghiệp Việt Nam

Ngày: 13/11/2016

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một thời đại lịch sử mới của nước ta. Ngành Nông nghiệp Việt Nam bắt đầu thời kỳ xây dựng và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cách mạng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày 14 tháng 11 năm 1945, Bộ Canh nông được thành lập. Cột mốc lịch sử đó đã trở thành Ngày Truyền thống của ngành Nông nghiệp và PTNT Việt Nam

Trải qua lịch sử 71 năm hình thành và phát triển, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ quan tâm và coi trọng; sự phát triển của nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển đất nước – từ thời kháng chiến kiến quốc đến giai đoạn thống nhất đất nước và đổi mới hiện nay.

“Hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”

Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc (1945-1975), nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã chiến thắng nạn đói, tham gia hiệu quả công cuộc kháng chiến, kiến quốc, hoàn thành vẻ vang sứ mệnh của “hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”. Thành tựu nổi bật đầu tiên của Chính phủ lâm thời là cứu đói trong năm (1945 – 1946). Sau khi giải quyết được nạn đói, ngành nông nghiệp đã không ngừng vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến kiến quốc. Đường lối về nông nghiệp từng bước được Đảng và Chính phủ hoạch định rõ nét qua các chủ trương lớn về tăng gia sản xuất, triệt để tiết kiệm, cải cách điền địa, giải phóng sức dân, đoàn kết, huy động mọi lực lượng và hình thành kinh tế tập thể.

Phát triển nông nghiệp thực sự là nền tảng của kinh tế kháng chiến. Từ một nền kinh tế canh nông đã bị tê liệt trước năm 1945, nông nghiệp kháng chiến không những không bị suy thoái tiếp, mà đã được duy trì và phát triển, với sản lượng lương thực, thực phẩm và hàng hóa ngày càng dồi dào hơn, đáp ứng kịp thời các nhu cầu của cuộc kháng chiến và đời sống nhân dân. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân toàn diện, tự lực cánh sinh đầy gian khổ của nhân dân ta. Lịch sử đã ghi nhận những thành tựu rất đáng tự hào về kinh tế nông nghiệp kháng chiến.

Chặng đường 20 năm (1955-1975) là thời kỳ đặc biệt của quá trình xây dựng và phát triển ngành Nông nghiệp nước ta, khi đất nước bị chia cắt làm hai miền, tiến hành hai chiến lược cách mạng khác nhau, chịu nhiều thách thức to lớn trong và ngoài nước, dưới chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh. Nông nghiệp miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tiến hành cải tạo, đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với chế độ sở hữu nhà nước và tập thể. Nông nghiệp miền Nam bị chia thành hai vùng, vùng tự do dưới chính quyền Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam do Đảng lãnh đạo và vùng tạm chiếm của chính quyền Mỹ – ngụy Việt Nam Cộng hòa, dựa trên tư hữu về tư liệu sản xuất. Trong khi nông nghiệp miền Nam phát triển không ổn định, không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội, thì nông nghiệp miền Bắc đã hoàn thành vai trò mặt trận hàng đầu trong xây dựng hậu phương lớn, chi viện đắc lực cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.

Đi tiên phong trong Đổi mới

Trong những năm tháng của thời kỳ khôi phục đất nước sau chiến tranh (thời kỳ 1975- 1985), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân và nông thôn đã phấn đấu vượt qua khó khăn đi tiên phong trong công cuộc Đổi mới đất nước. Từ những thí điểm hình thức khoán trong sản xuất nông nghiệp ở Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh từ 1980, chủ trương mở rộng khoán theo Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13 tháng 1 năm 1981 đã tạo đà cho phát triển; cuối năm 1981 đầu 1982 “Khoán 100” được nhanh chóng áp dụng trong cả nước đem lại hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) về giao lại ruộng đất cho nông dân quản lý, “công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể tư nhân, đảm bảo quyền làm ăn chính đánh và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân”.

Nhờ có chính sách tạo động lực và hỗ trợ phù hợp, với tinh thần sáng tạo, cần cù, tự lực cánh sinh, nông dân Việt Nam đã hăng hái sản xuất, chủ động sáng tạo, chấp nhận cạnh tranh trên thị trường. Mặc dù có xuất phát điểm rất thấp và đối diện với những thách thức lớn lao của thị trường và thời tiết, nhưng người nông dân Việt Nam đã nhanh chóng làm quen với sản xuất hàng hóa, chủ động sáng tạo và áp dụng có hiệu quả KHCN, huy động nội lực, khắc phục khó khăn tạo nên những thành công to lớn trong sản xuất kinh doanh. Sự hình thành và phát triển thành công của nhiều mặt hàng nông sản nổi tiếng của Việt Nam như cà phê, hạt điều, trái cây, thủy sản, đồ gỗ… chủ yếu nhờ sự năng động và sáng tạo của nông dân cùng với sự đồng hành của doanh nghiệp nông nghiệp.

Nhận định về những chính sách thời kỳ Đổi mới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, những chủ trương, chính sách giúp giải phóng tiềm năng của nông dân, thúc đẩy vai trò năng động, tích cực của nông dân trong sản xuất nông nghiệp, tạo sự thay đổi kỳ diệu của nông nghiệp Việt Nam. Từ một nước thiếu ăn, năm 1989, sản lượng lúa gạo đạt con số 21,5 triệu tấn và lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu được 1,2 triệu tấn lúa gạo. Đến nay, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 thế giới. Trong bối cảnh thiên tai diễn ra khốc liệt trên phạm vi rộng trong năm 2016, nhưng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 31 tỷ USD, thặng dư 8 tỷ USD. Hiện ngành NN&PTNT có 10 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đtạ hơn 1 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường khẳng định: “Qua 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã hội nhập sâu, rộng vào thị trường quốc tế, đạt mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu nông sản hàng đàu thế giới. Nông nghiệp đã là một trong những động lực phát triển kinh tế xã hội và là cứu cánh cho nền kinh tế vào những giai đoạn khó khăn”.

Tuy nhiên, sau một giai đoạn tăng trưởng nhanh, GDP nông nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng trưởng chậm lại, giảm từ 4,5% năm 1995-2000 xuống còn 3,8% giai đoạn 2000-2005 rồi 3,4% giai đoạn 2006-2011, chỉ còn 2,7% năm 2013 và 2,41% năm 2015. Đặc biệt, 6 tháng đầu năm 2016, lần đầu tiên tăng trưởng ngành nông nghiệp giảm 0,18% và cả năm 2016 dự kiến mức tăng trưởng của ngành chỉ đạt từ 1,2-1,4%. Sự suy giảm tăng trưởng nông nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới mục tiêu kinh tế cho riêng ngành nông nghiệp mà còn tác động tiêu cực đối với bình ổn kinh tế vĩ mô, giảm động lực tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, giảm thu nhập việc làm cho người dân, cản trở công cuộc xóa đói giảm nghèo, có thể làm mất ổn định chính trị – xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống của nông dân. Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, hàng hóa lớn; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phát triển bền vững, an ninh lương thực quốc gia và vệ sinh an toàn thực phẩm. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp bình quân từ 2,5-3,0%/năm. Đây là một động lực quan trọng để phát huy toàn bộ tinh thần sáng tạo, năng lực của hơn 10 triệu hộ nông dân tham gia cùng tái cơ cấu gắn với xây dựng nông thôn mới. Đặc biệt là khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nông nghiệp, nông dân và nông thôn, những chủ thể trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho 70% dân số ở khu vực nông thôn Việt Nam, thực hiện mục tiêu tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo.

Trải qua lịch sử 71 năm hình thành và phát triển đến nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã có nhiều sự thay đổi về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức:

- Từ Bộ Canh nông (1945) đến Bộ Nông lâm và Bộ Thuỷ lợi (1955); Bộ Nông nghiệp; Bộ Nông trường; Tổng cục Thủy sản; Tổng cục Lâm nghiệp (1960); Ủy ban Nông nghiệp trung ương (1971); Bộ Hải sản và Bộ Lâm nghiệp (1976); Bộ Công nghiệp thực phẩm và Bộ Lương thực (1981); Bộ Nông nghiệp (1987).

- Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá IX (tháng 10/1995) đã thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp – Công nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi.

- Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Ngành Nông nghiệp và PTNT ngày nay là một lĩnh vực kinh tế – xã hội rộng lớn, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn./.

 Khương Lực