Quá trình hình thành và phát triển ngành Thủy sản

Ngày: 21/12/2012
TỔNG CỤC THUỶ SẢN (1960)

Cuối tháng 4 năm 1960, Hội đồng Bộ Trưởng đã họp, thảo luận và ra Nghị quyết trình Quốc hội, đề nghị Quyết định tách Bộ Nông lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng Cục Thuỷ sản và Tổng Cục Lâm nghiệp[2]. Trong phiên họp ngày 28 tháng 4 năm 1960, Ban Thường trực Quốc hội họp và Quốc hội tán thành Nghị quyết trên về tổ chức lại Bộ Nông lâm.
Nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản
Ngày 05/10/1961 Chính phủ ban hành Nghị định số 150/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thuỷ sản.
Sự ra đời của Tổng cục Thuỷ sản là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển của ngành Thuỷ sản, nhất là trong những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ 20. Nghề cá bắt đầu có bước phát triển cả về đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và hợp tác quốc tế trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960 – 1965).

BỘ HẢI SẢN (1976)

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, ngành Thuỷ sản bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển mới ở cả 2 miền Bắc và Nam Việt Nam.
Trước đòi hỏi khách quan và bức thiết phát triển nghề cá biển, Quốc hội Việt Nam thống nhất trong kỳ họp đầu tiên năm 1976 đã thành lập Bộ Hải sản.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Hải sản
Năm 1978, Chính phủ đã Quyết định chuyển Cục Nuôi cá nước ngọt từ Bộ Nông nghiệp về Bộ Hải sản nhằm tăng cường sự quản lý thống nhất nghề cá.
Phong trào xây dựng “Ao cá Bác Hồ” được liên Bộ: Hải sản – Nông nghiệp – Viện bảo tàng Hồ Chí Minh phát động từ tháng 11 năm 1978 nhằm động viên mọi thành phần kinh tế, mọi lực lượng, mọi người nuôi cá theo gương Bác Hồ.
Sau ngày thống nhất đất nước, ngành Thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống: cung cấp nguồn đạm từ thuỷ sản cho nhu cầu dinh dưỡng của nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho một số ngành công nghiệp khác, thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản và sản phẩm cho xuất khẩu, tăng thêm việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo tiến tới làm giàu ở nông thôn, miền biển, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng trên biển.
Giai đoạn 1976 – 1980 là thời kỳ nghề cá bị sa sút, tổng sản lượng thuỷ sản ngày một giảm, đời sống của ngư dân sút kém. Thực tế đó đòi hỏi phải nghiên cứu từng bước tháo gỡ khó khăn đang kìm hãm sản xuất để phát triển ngành thuỷ sản phù hợp với quy luật khách quan, với tiềm năng nguồn lợi và lao động đáp ứng đòi hòi của xã hội đối với ngành trong những thập kỷ tiếp theo.
BỘ THUỶ SẢN (1981)
Quốc hội khoá VII (tháng 7/ 1981) đã quyết định thành lập Bộ Thuỷ sản.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Thuỷ sản:
Thời kỳ này, một thành công lớn của ngành Thuỷ sản là đã xác định được nghề cá Việt Nam là nghề cá nhân dân, đòi hòi phải có chính sách và cơ chế quản lý phù hợp, huy động được nhiều vốn và lao động đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hậu cần cho sản xuất và ngư dân, tổ chức khai thác đồng thời chú ý đến việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.
Ngành thuỷ sản lúc này thực sự đã có những đóng góp tích cực vào quá trình phát triển của đất nước, được coi là mũi nhọn đột phá trong việc hướng dẫn sản xuất kinh doanh sang sản xuất hàng hoá, lấy xuất khầu làm mũi nhọn, được phép thử nghiệm cơ chế “tự cân đối hoá, tự trang trải” trong sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, coi trọng các thành phần kinh tế, đồng thời xác định vai trò dịch vụ của các quốc doanh. Từ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp sớm bước vào cơ chế thị trường trước các ngành kinh tế khác. Giai đoạn 1981 – 1985, lần đầu tiên ngành thuỷ sản đã nối liên các khâu trong nghề cá để có thể giải quyết tương đối thoả đáng những vấn đề chung và “đặc thù” của ngành, và là ngành đầu tiên được giao quản lý trọn vẹn từ khâu nuôi trồng, khai thác (1978) đến chế biến (1980) đến xuất nhập khẩu và nội tiêu (1981 và 1985).
Trong lĩnh vực đầu tư của ngành đã có những bước chuyển đổi: đầu tư trong cả ba lĩnh vực: chế biến, nuôi trồng và khai thác, ngoài phần đầu tư của nhà nước, hàng năm các thành phần khác tham gia đầu tư vào nghề cá với tỷ trọng ngày càng lớn, chủ trương gắn vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến được xác lập.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VII ra Nghị quyết sớm xác định Thuỷ sản là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp phát triển của đất nước, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 3 xác định xây dựng Việt Nam thành một quốc gia mạnh về biển, trong đó ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế chủ chốt.
Các định hướng về nuôi trồng thuỷ sản, chương trình chế biến thuỷ sản và chương trình khai thác hải sản xa bờ được xây dựng với nhiều chủ trương và biện pháp về kinh tế, kỹ thuật, hợp tác quốc tế, chính sách lao động đã mang lại cho hoạt động của toàn ngành đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá với những thời cơ và thách thức mới.
 
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (8/2007)
Để nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, thu gọn các Bộ quản lý ngành hiện có theo chiều hướng chuyển từ Bộ quản lý đơn ngành sang mô hình Bộ quản lý nhà nước nhiều ngành, nhiều lĩnh vực có chức năng gần giống nhau, giảm bớt sự chồng chéo, chia cắt giữa các Bộ; tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/ 2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

[1] Ngày 17/02/1955, Bộ Nông lâm ban hành Nghị định số 03-NL/TQ/NĐ tổ chức một Quốc doanh Lam khẩn ở Trung ương đặt trong Vụ Lâm nghiệp. Vụ có hai bộ phận Lâm nghiệp và một Quốc doanh Lâm khẩn.
[2] Chính phủ Việt Nam 1945-2000, Nhà Xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, trang 87.
[3]  Uỷ ban Nông nghiệp Trung ương lúc bấy giờ là một tổ chức quản lý Nhà nước ngang Bộ. Đến năm 1977 Uỷ ban đổi tên thành Bộ Nông nghiệp.
[4] Quyết định số 120-CP ngày 16/6/1972 của Hội đồng Chính phủ.