QUÁ TRÌNH KIỆN TOÀN VÀ PHÁT TRIỂN CƠ QUAN QUẢN LÝ NGÀNH LƯƠNG THỰC, THỰC PHẨM

Ngày: 04/04/2016

Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, công tác quản lý, thu mua phân phối lương thực được chuyển đổi nhiệm vụ từ phục vụ chiến tranh thành thương nghiệp phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân, hướng dẫn thương gia chuyển sang kinh doanh công nghiệp, tăng cường mậu dịch quốc doanh, phát triển hợp tác xã …(1)

Với sự chuyển hướng của hoạt động thương nghiệp, Chính phủ đã bãi bỏ Sở Mậu dịch, thành lập các tổng công ty chuyên ngành, trong đó có Tổng công ty Lương thực  thuộc Bộ Công thương vào tháng 12 năm 1954 (2). Và cho sát nhập Sở Kho thóc (thuộc Bộ Tài chính) vào Tổng công ty Lương thực tháng 8 năm 1955 (3).

Ngày 20/9/1955, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa I, có nghị quyết về việc bổ sung, điều chỉnh thành phần Hội đồng Chính phủ, Bộ Công thương được chia thành hai bộ: Bộ Công nghiệp và Bộ Thương nghiệp. Từ thời điểm này, ngành lương thực thuộc Bộ Thương nghiệp, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và ngành muối thuộc Bộ Công nghiệp. Sau này khi tách Bộ Công nghiệp thành Bộ Công nghiệp nặng và Bộ Công nghiệp nhẹ (năm 1960) thì hai ngành này thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ.

Ngày 29/04/1958, Quốc hội khóa 1 ra nghị quyết về tổ chức và hoạt động chính phủ, quyết định chia Bộ Thương nghiệp thành hai bộ: Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương (4).

Từ tháng 4/1958 đến tháng 2/1961, Bộ Nội thương tiếp nhận quản lý ngành lương thực.

Trong năm 1959, từ Tổng Công ty Lương thực , chính phủ thành lập Cục Lương thực thuộc Bộ Nội thương. Hai năm sau, ngày 14/2/1961, Hội đồng chính phủ ra nghị quyết về việc tách Cục Lương thực ra khỏi Bộ Nội thương để thành lập Tổng cục Lương thực trực thuộc Hội đồng Chính phủ (5) và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II, phiên họp thứ 11 ngày 21/2/1961 ra Nghị quyết số 25-NQ/TVQH phê chuẩn (6). Trên cơ sở đó, ngày 13/5/1961, Hội đồng Chính phủ chính thức ra Quyết định số 61-CP về việc tách Cục Lương thực ra khỏi Bộ Nội thương và thành lập Tổng Cục Lương thực.

Trước đòi hỏi của cuộc kháng chiến cống Mỹ cứu nước, Chính phủ có chủ trương thành lập Bộ mới để quản lý thống nhất lích vực lương thực, thực phẩm. Ngày 11/8/1969, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa III đã có Nghị quyết số 780-NQ/TVQH phê chuẩn sửa đổi và thành lập một số tổ chức mới trong bộ máy nhà nước, trong đó có quyết nghị thành lập Bộ Lương thực và Thực phẩm trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Lương thực và ngành Công nghiệp chế biến thực phẩm tách từ Bộ Công nghiệp nhẹ và cử ông Ngô Minh Loan, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam  Dân chủ Cộng hòa tại Trung Quốc giữ chức Bộ trưởng.

Ngày 19/8/1969, Hội đồng Chính phủ có Nghị định số 149-CP, quy định chức năng và tổ chức bộ máy của Bộ Lương thực thực phẩm.

Từ năm 1969 trở đi, khi Hội đồng Chính phủ thành lập Bộ lương thực và Thực phẩm, ngành muối cùng với ngành chế biến thực phẩm được chuyển từ Bộ Công nghiệp nhẹ sang Bộ Lương thực và Thực phẩm và ở lại đó đến khi tách Bộ Lương thực và Thực phẩm thành hai bộ: Bộ Lương thực và Bộ Công nghiệp Thực phẩm năm 1981, ngành muối chuyển về Bộ công nghiệp thực phẩm.

Công tác quản lý các ngành thực phẩm khác cũng trải qua nhiều bộ khác nhau trong thời kỳ từ 1955 đến 1976. Ban đầu thuộc Bộ Công thương, sau chuyển về Bộ Công nghiệp, rồi Bộ Công nghiệp nhẹ, trước khi được thống nhất quản lý trong Bộ Lương thực và Thực phẩm từ 1969 đến 1981.

Năm 1981 là năm đầu nhiệm kỳ mới của Chính Phủ (1981 – 1987). Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp ngày 22/1/1981 đã có Nghị quyết số 1236-NQ/QHK6 về việc thành lập hai bộ: Bộ Lương thực và Bộ Công nghiệp thực phẩm.

Ngày 23/4/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 167/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Công nghiệp thực phẩm; Nghị định 168/CP quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Lương thực.

Ngày 16/2/1987, Hội đồng Nhà nước đã ra Nghị quyết số 782-NQ/HĐNN7 kiện toàn một bước các cơ quan và thành phần của Hội đồng Bộ trưởng. Theo Nghị quyết trên, số thành viên Chính phủ chỉ còn 32 bộ trưởng, chủ nhiệm ủy ban nhà nước và thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Để đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, Chính phủ chủ trương gắn quản lý sản xuất nông nghiệp với công tác lương thực và công nghiệp thực phẩm, nhằm tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển theo chuỗi từ “đồng ruộng đến bàn ăn”, các lĩnh vực từ sản xuất đến chế biến tiêu thụ gắn kết với nhau chặt chẽ hơn; đồng thời khắc phục tình trạng tồn tại quá nhiều bộ, ngành khu vực kinh tế nông nghiệp. Theo chủ trương đó các Bộ Nông nghiệp, Bộ Lương thực và Bộ Công nghiệp thực phẩm được hợp nhất lại thành Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.

Bước vào nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII (1987 – 1992), sau khi Hội đồng Nhà nước và Quốc hội phê chuẩn việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, ngày 05/3/1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 46-HĐBT quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về nông nghiệp, lương thực và công nghiệp thực phẩm trang phạm vi cả nước, theo đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, cho quốc phòng, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu (8)

Giai đoạn (1987 – 1995) các Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi tiếp tục được củng cố về tổ chức;

Giai đoạn (1995 – 2007) các Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi hợp nhất để trở thành bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chủ trương thành lập các bộ kinh tế đa ngành, phát huy vai trò chủ động trong quản lý nhà nước các bộ, ngành;

Giai đoạn (2007 – 2015): Tiếp tục hợp nhất Bộ Thủy sản và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để trở thành Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (mới), với mô hình quản lý tổng hợp đa ngành nông – lâm – ngư nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn./. (9)

Nguyễn Văn Lợi tổng hợp

 

Tài liệu tham khảo:

(1)             Lịch sử chính phủ Việt Nam 1945 – 2005, t2 (195501976), tr 37-40

(2)             Nghị định số 419-CP ngày 01/12/1954 của Hội đồng Chính phủ.

(3)             Nghị định số 573-TTg ngày 17/8/1955 của Hội đồng Chính phủ

(4)             Biên niên Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945 – 2005, t2(1955-1976), tr.76-77, 266-267.

(5) Biên niên Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945 – 2005, t2(1955-1976), tr. 497.

(6) Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II: Nghị quyết số 25-NQ/TVQH ngày 21/2/1961. Thuvienphapluat.vn

(7) 70 năm Nông nghiệp Việt Nam, tr 172.

(8) 70 năm Nông nghiệp Việt Nam, tr 440 – 441

(9) 70 năm Nông nghiệp Việt Nam, tr 439