QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP VÀ KIỆN TOÀN CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NGÀNH THỦY LỢI THỜI KỲ 1976 – 1986

Ngày: 20/11/2016

Từ khi được trở lại với tên gọi Bộ Thủy lợi theo Quyết định số 216-CP ngày 20/12/1962 của Hội đồng Chính phủ, chức năng nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Bộ Thủy lợi được điều chỉnh, kiện toàn nhiều lần trong khoảng thời gian những năm (1962 – 1975). Đến năm 1976 tổ chức Bộ máy của Bộ Thủy lợi cơ bản được kiện toàn.

Ở thời kỳ (1976 – 1986), tên gọi và mô hình tổ chức của Bộ Thủy lợi tương đối ổn định, tiếp tục được duy trì với một lực lượng ngày một tăng cường để tập trung giải quyết những vấn đề lớn của công tác thủy lợi trong tình hình mới.

Bước vào thời kỳ này, nền nông nghiệp miền Nam sau 30 năm chiến tranh tàn phá bị lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, nạn hạn, úng, lũ, lụt, chua mặn xảy ra thường xuyên. Cùng với việc củng cố đê điều, tiếp tục phát triển các công trình thủy lợi và hệ thống thủy nông ở miền Bắc sau chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Nhà nước chủ trương tập trung mọi khả năng, ưu tiên đẩy mạnh công tác thủy lợi miền Nam, khẩn trương giải quyết những nhu cầu cấp bách cho từng vùng để phục vụ sản xuất, cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định chính trị.(1)

Sau kỳ họp thứ nhất của Quốc hội thống nhất cả nước (khóa VI), Hội đồng Chính phủ được kiện toàn, ông Nguyễn Thanh Bình tiếp tục được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi cho đến tháng 1 năm 1981. Tiếp đó, ông Nguyễn Cảnh Dinh được giao giữ chức Bộ trưởng Bộ Thủy lợi đến năm 1995 khi Bộ được sát nhập vào Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, Bộ Lâm nghiệp để thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2)

Trong 10 năm (1976 – 1986), ngành thủy lợi đã có những bước phát triển mới, cả về quy mô, phạm vi và chiều sâu, từng bước giải quyết được những vấn đề lớn của thủy lợi ở cả hai miền. Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ cũng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng.

Nhiệm vụ thủy văn quốc gia của Bộ Thủy lợi trong giai đoạn này được tách ra để hợp nhất với Nha Khí tượng – Thủy văn của Hội đồng Chính phủ, thành lập Tổng cục Khí tượng –Thủy văn trực thuộc Hội đồng Chính phủ.

Một trong những nhiệm vụ của ngành thủy lợi được Chính phủ giao bổ sung là tham gia Ủy ban lâm thời  sông Mê Công để tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước, nhằm mục đích sử dụng và khai thác hợp lý nguồn nước của sông mê Công (3)

Trong năm 1978, tại Quyết định số 133-CP, ngày 07/6/1978 Chính phủ kiện toàn tiếp Ban Chỉ huy chống lụt bão Trung ương, chỉ định các thành viên, trong đó: Trưởng ban là ông Nguyễn Thanh Bình, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi (4)

Để kiện toàn hệ thống quản lý thủy nông, Bộ Thủy lợi đã ra Thông tư số 21-TT/TC/TN ngày 26/11/1977 về tổ chức quản lý thủy nông. Dựa trên Thông tư, công tác quản lý thủy nông được xác định với ba nội dung cơ bản là quản lý công trình, quản lý nước và quản lý kinh doanh. Hệ thống quản lý thủy nông bao gồm các công ty thủy nông, được tổ chức theo nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống thủy nông, lấy hệ thống thủy nông làm cơ sở tổ chức công ty thủy nông; và công trình thủy nông là đơn vị kinh tế cơ sở hoạch toàn độc lập(5)

Công tác xây dựng cơ bản là nhiệm vụ quan trọng, đặc trưng của ngành thủy lợi phục vụ trực tiếp khối nông, lâm, ngư nghiệp. Trong thời kỳ này,  theo cơ chế quản lý kinh tế tập trung kế hoạch hóa, công tác xây dựng cơ bản của Ngành được Bộ Thủy lợi tập trung quản lý, chỉ đạo.

Đến năm 1979, để kiện toàn Bộ Thủy lợi theo yêu cầu nhiệm vụ mới, Hội đồng chính phủ có Nghị định số 88-CP ngày 06/3/1979 quy định về tổ chức và hoạt động của Bộ Thủy lợi. Theo đó, Bộ Thủy lợi là cơ quan của Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm thống nhất quản lý Nhà nước toàn ngành thủy lợi trong phạm vi cả nước về các mặt: Quản lý tài nguyên nước, phân phối sử dụng và bảo vệ môi trường nước (bao gồm nước trên mặt đất và nước ngầm); Xây dựng và quản lý xây dựng các công trình thủy lợi; Quản lý khai thác các công trình thủy lợi; Quản lý công tác phòng chống lũ lụt, quản lý dòng sông và công tác đê điều, nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, trước hết là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Đề thực hiện các nhiệm vụ được giao, cơ cấu tổ chức của Bộ Thủy lợi từ năm 1979 gồm các khối cơ quan, đơn vị sau: Các tổ chức sản xuất, kinh doanh trực thuộc Bộ; Các cơ quan sự nghiệp; Các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước (6)

Sau này, khi Hội đồng Chính phủ có Nghị định số 35-CP ngày 9/02/1981 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lích vực quản lý nhà nước, Bộ Thủy lợi được phân công quản lý lực lượng xây dựng chuyên ngành, có thêm nhiệm vụ và quyền hạn là:

- Trình Chính phủ quyết định, hoặc được Chính phủ ủy quyền quyết định các chế độ, thể lệ, tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, kỹ thuật, định mức, đơn giá… về xây dựng để áp dụng trong ngành;

- Lập kế hoạch 5 năm, kế hoạch hàng năm về giao thầu và nhận thầu xây lắp và kế hoạch đầu tư về xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của ngành trình Chính phủ phê chuẩn và chỉ đạo thực hiện kế hoạch ấy (7)

Hệ thống quản lý thủy lợi theo ngành dọc từ Trung ương đến các địa phương được hình thành và kiện toàn ở miền Bắc trong những năm chiến tranh đã được áp dụng cho các tỉnh phía Nam sau ngày giải phóng thống nhất đất nước. Năm 1979, hệ thống này được tổ chức lại theo quy định của Nghị định 88-CP ngày 06/3/1979 của Hội đồng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Bộ Thủy lợi. Theo đó, hệ thống tổ chức thủy lợi địa phương gồm có: Ty, sở thủy lợi ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Ban thủy lợi ở cấp huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; ở cấp xã do Ủy ban nhân dân xã phụ trách (8)

Trước khi Đảng ta tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ VI vào tháng 12 năm 1986 và đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Bộ Thủy lợi cơ bản đã được điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và hệ thống các cơ quan quản lý ngành từ trung ương đến các địa phương đã được kiện toàn. Ngành thủy lợi đã thực hiện bước đầu thắng lợi bước đầu đường lối đổi mới nông nghiệp trong các năm (1981 – 1986), đặt tiền đề cho đổi mới mạnh mẽ hơn ở giai đoạn tiếp theo./.

 

  Ngày 20/ 11/ 2016

Nguyễn Văn Lợi

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 332 – 333)

(2)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 333)

(3)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 334)

(4)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 335)

(5)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 336)

(6)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 338 – 339)

(7)                       Hội đồng Chính phủ: Nghị định số 35-CP ngày 9 tháng 2 năm 1981. Thuvienphapluat.vn

(8)                       70 năm Nông nghiệp Việt Nam (tr 340)